|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 55/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 26/7/2024
V/v: “Ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Sơn Linh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lài Thị Thu Hà
Ông Phạm Ngọc Diện
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Trọng Thắng – là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Duy Hoàng Thao – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 196/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2024 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Tòa án Lâm H giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Cil K, sinh năm: 1993.
Địa chỉ: tổ dân phố B, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị đơn: anh Trần Văn C, sinh năm: 1991.
Địa chỉ: tổ dân phố B, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
(chị C1 K’Glang và anh C có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn và bản tự khai nguyên đơn chị C1 K’Glang trình bày: chị và anh Trần Văn C xây dựng gia đình với nhau vào năm 2022 trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc mặc dù có xảy ra mâu thuẫn nhưng vẫn giải quyết được, tuy nhiên, từ đầu năm 2023 thì cuộc sống vợ chồng không hòa thuận, hạnh phúc xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất hòa, cãi nhau thường xuyên. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh C ham chơi, không lo làm ăn kinh tế, thường xuyên đánh đập chị nên khoảng cách vợ chồng ngày càng nhiều. Cuối năm 2023 chị đã làm đơn ly hôn sau đó chị đã rút đơn để vợ chồng đoàn tụ nhưng anh C không thay đổi. Vì vậy chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh C vì vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau. Về con chung chị C1 K’Glang xác định vợ chồng có một con chung là Cil Trần Thiên H1, sinh ngày 14/11/2022, khi ly hôn chị C1 K’Glang muốn nhận nuôi con và yêu cầu anh Trần Văn C cấp dưỡng nuôi con với số tiền là 3.000.000đồng/tháng. Về tài sản chung và nợ chung chị C1 K’Glang xác định vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Ngoài ra chị C1 K’Glang không còn yêu cầu gì khác.
Tại bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt bị đơn anh Trần Văn C trình bày: anh và chị C1 K’Glang kết hôn vào năm 2022 trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc có xảy ra mâu thuẫn nhưng vẫn giải quyết được, tuy nhiên từ đầu năm 2023 thì cuộc sống vợ chồng không hòa thuận, hạnh phúc xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất hòa, cãi nhau thường xuyên. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, chị Cil K cho rằng anh không chịu làm ăn kinh tế, bên cạnh đó mối quan hệ giữa anh và gia đình vợ cũng không tốt. Cuối năm 2023 chị Cil K đã làm đơn ly hôn, trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án anh chị thống nhất rút đơn về để vợ chồng đoàn tụ nuôi con chung, nhưng từ đó đến nay tình cảm vợ chồng không cải thiện, anh xác định không còn tình cảm với chị C1 K và không thể tiếp tục chung sống với nhau nên anh đồng ý ly hôn. Về con chung anh Trần Văn C xác định vợ chồng có một con chung là Cil Trần Thiên H1, sinh, sinh ngày 14/11/2022, khi ly hôn anh C đồng ý giao con cho vợ nuôi dưỡng và anh có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con với số tiền là 3.000.000đồng/tháng. Về tài sản chung và nợ chung anh Trần Văn C xác định vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Ngoài ra anh Trần Văn C không còn yêu cầu gì khác.
Tòa án đã tiến hành mở phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải thì chị Cil K vẫn giữ nguyên yêu cầu của mình nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Do bận công việc nên chị Cil K và anh Trần Văn C đều có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt.
Tại phiên tòa:
Các đương sự đều vắng mặt
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng cũng như phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án theo hướng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Cil K. Về con chung: giao con là Cil Trần Thiên H1, sinh, sinh ngày 14/11/2022 cho chị C1 K’Glang trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Trần Văn C có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con là 3.000.000đồng/tháng. Về tài sản chung và nợ chung: chị C1 K’Glang và anh Trần Văn C xác định không có và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết. Về án phí, buộc chị C1 K’Glang phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; anh Trần Văn C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa cũng như ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: nguyên đơn chị Cil K và anh Trần Văn C vắng mặt tại phiên tòa và đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo thủ tục chung là phù hợp.
[2] Về quan hệ hôn nhân: chị Cil K và anh Trần Văn C xây dựng gia đình với nhau vào năm 2022, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 14/3/2022. Việc đăng ký kết hôn không vi phạm các điều kiện cấm kết hôn theo quy định của luật hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân của chị Cil K và anh C là hợp pháp. Tuy nhiên, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc nên chị Cil K làm đơn khởi kiện ly hôn. Xét thấy, vợ chồng chị Cil K và anh C phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng không có sự chia sẻ với nhau trong cuộc sống, vợ chồng thiếu sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, trong cách xử sự thì thiếu sự kiềm chế nên thường xảy ra bất hòa. Sau khi phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng cũng đã nhiều lần tìm cách để cải thiện tình cảm nhưng không có kết quả. Bên cạnh đó, cuối năm 2023 chị C1 K’Glang làm đơn ly hôn nhưng sau đó chị lại rút đơn vì muốn tạo cơ hội để cho cả hai cải thiện tình cảm nhưng không được nên chị C1 K’Glang lại tiếp tục làm đơn xin ly hôn. Mặt khác, bản thân anh C cũng không có thiện chí nhằm cải thiện quan hệ hôn nhân của hai anh chị, cụ thể từ khi thụ lý vụ án Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh C đến Tòa án làm việc nhưng anh C không đến, đồng thời anh C có đơn xin giải quyết và xét xử vắng mặt gửi đến Tòa án. Trong đơn anh C xác định mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, vợ chồng không thể hàn gắn mâu thuẫn được nữa nên anh đồng ý ly hôn. Do đó, nếu kéo dài tình trạng hôn nhân như hiện nay cũng không mang lại hạnh phúc cho các đương sự do mâu thuẫn vợ chồng đã kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cần chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Cil K, xử cho chị C1 K’Glang và anh Trần Văn C được ly hôn là hoàn toàn phù hợp.
[3] Về con chung: chị C1 K’Glang và anh Trần Văn C một con chung là Cil Trần Thiên H1, sinh, sinh ngày 14/11/2022. Khi ly hôn chị C1 K’Glang muốn được nuôi con chung. Anh C đồng ý giao con cho chị C1 K’Glang nuôi dưỡng, xét thấy cháu C1 Trần Thiên H1 là con gái, hiện nay vẫn chưa đủ 36 tháng tuổi nên giao con cho mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Tuy nhiên, cả chị Cil K và anh C cùng thống nhất giao con cho chị C1 K’Glang nuôi dưỡng, đây là sự tự nguyện của các đương sự nên ghi nhận. Vì vậy, để đảm bảo điều kiện học tập và sinh hoạt ổn định cho cháu C1 Trần Thiên H1, căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 81 luật hôn nhân và gia đình, giao con là Cil Trần Thiên H1, sinh, sinh ngày 14/11/2022 cho chị C1 K’Glang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
[4] Về việc cấp dưỡng nuôi con: trong quá trình giải quyết vụ án chị C1 K’Glang yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con là 3.000.000đ/tháng. Anh C đồng ý cấp dưỡng nuôi con với số tiền là 3.000.000đồng/tháng nên cần ghi nhận sự tự nguyện này của các đương sự.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: chị Cil K và anh Trần Văn C cùng xác định không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí: Buộc chị Cil K phải chịu 300.000đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Anh Trần Văn C phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 203; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 235; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84; Điều 110; Điều 116 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận đơn ly hôn của chị Cil K, xử cho chị C1 K’Glang và anh Trần Văn C được ly hôn.
- Về con chung: giao con là Cil Trần Thiên H2, sinh ngày 14/11/2022 cho chị C1 K’Glang được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Trần Văn C có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con với số tiền là 3.000.000đồng/tháng. Thời gian cấp dưỡng nuôi con kể từ khi án có hiệu lực pháp luật cho đến khi nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt theo quy định của pháp luật.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
- Về án phí: chị C1 K’Glang phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Cil K đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004783 ngày 12 tháng 6 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, chị Cil K đã nộp đủ án phí. Anh Trần Văn C phải nộp 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự”.
Chị Cil K và anh Trần Văn C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND huyện Lâm Hà; - THADS huyện L; - UBND thị trấn Đ; - Các đương sự; - Lưu HSVA. |
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Sơn L |
Bản án số 55/2024/HNGĐ-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn
- Số bản án: 55/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn giữa nguyên đơn chị Cil K và bị đơn anh Trần Văn C
