Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẨM PHẢ

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 25/9/2024

“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Trương Thị Gái

- Các Hội thẩm nhân dân: bà Bùi Thị Kim Loan và bà Nguyễn Thị Hiền

- Thư ký phiên tòa: ông Phạm Tiến Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Phạm Thu Huyền – Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 88/2024/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 35/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

· Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị H, sinh năm: 1994.

Nơi cư trú: tổ E, khu B, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; Nơi ở hiện tại: Lê Quang B, Thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Nghề nghiệp: Công nhân Công ty TNHH D; có mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: anh Nguyễn Tuấn T, sinh năm: 1984.

Nơi cư trú: tổ E, khu B, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Nghề tự do (vắng mặt tại phiên tòa không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ghi ngày 08/4/2024, tại Bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị H đều trình bày: Tôi với anh Nguyễn Tuấn T kết hôn hợp pháp vào năm 2012 tại Ủy ban nhân dân (viết tắt: UBND) phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh trên cơ sở tự nguyện, trước khi kết hôn chúng tôi có thời gian tìm hiểu nhau 08 tháng.

Sau khi kết hôn chúng tôi chung sống cùng gia đình bên chồng tại tổ E, khu B, phường C, thành phố C cho đến năm 2013 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng khó khăn về kinh tế, thời điểm đó tôi sinh con ở nhà còn anh T làm nghề tự do, công việc không ổn định nên không có kinh tế để lo cho gia đình, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau, ngoài ra anh T còn nhiều

2

lần uống rượu về gây sự chửi bới tôi, mâu thuẫn vợ chồng tôi được tổ dân và gia đình hòa giải nhưng không có kết quả, đến năm 2018 tôi và anh T đến tỉnh Bắc Ninh thuê nhà trọ ở để tìm việc làm, nhưng chỉ được 2- 3 tháng anh T bỏ về C sinh sống, từ đó chúng tôi mỗi người sống một nơi, thỉnh thoảng cuối tuần tôi về thăm gia đình, nhưng cũng từ đó vợ chồng tôi dần không quan tâm đến nhau, anh T mỗi lần đến nhà trọ tìm tôi là gây sự với tôi, anh không có trách nhiệm với gia đình, không chăm lo đến vợ con, từ năm 2020 đến nay vợ chồng tôi sống ly thân, tôi thấy mâu thuẫn vợ chồng tôi đã quá căng thẳng, trầm trọng không thể hàn gắn được nên tôi yêu cầu được ly hôn anh Nguyễn Tuấn T.

Về con chung: Vợ chồng tôi có 02 con chung là Nguyễn Trung K, sinh ngày 07/9/2013 và Nguyễn Trung H1, sinh ngày 21/9/2015; kể từ năm 2018 hai con chung của chúng tôi sống cùng anh T và gia đình bên chồng, từ tháng 8/2024 con chung Nguyễn Trung K chuyển về sống cùng gia đình tôi và theo học tại trường THCS T3 thuộc huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, bản thân tôi hiện đang làm công nhân ở tỉnh Bắc Ninh, thu nhập trung bình từ 7.000.000 đồng - 8.000.000 đồng/tháng, tại phiên tòa tôi yêu cầu được nuôi con chung Nguyễn Trung Kiên, còn con chung Nguyễn Trung H1 để anh T có trách nhiệm nuôi dưỡng, giáo dục. Tôi và anh T không ai phải cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung: vợ chồng tôi không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ chung: không có.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Tuấn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh T đều vắng mặt, xác minh tại địa phương và gia đình anh T cho biết anh Nguyễn Tuấn T sống cùng mẹ, làm nghề tự do, ai thuê gì làm nấy, đã nhiều năm nay bà Nguyễn Thị T1 là mẹ đẻ anh T là người chăm nuôi 02 con của anh chị Hằng Tú, bà T1 hiện đã gần 80 tuổi nên bà không thể có điều kiện chăm nuôi 2 cháu; hiện tại chị H đã chuyển cháu Nguyễn Trung K về quê sống cùng gia đình ngoại ở Thái nguyên. Quá trình giải quyết vụ án các giấy triệu tập, các thông báo, quyết định của Tòa án bà Nguyễn Thị T1 đều chuyển đến anh T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên tòa phát biểu: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tiến hành các thủ tục tố tụng để giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn chị Nguyễn Thị H đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định. Anh Nguyễn Tuấn T đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt, không thực hiện đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H, căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Tuyên xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H; về con chung anh chị Hằng T có 02 con chung, căn cứ yêu cầu của chị Nguyễn Thị H cùng các tài liệu cho thấy giao cho anh Nguyễn Tuấn T nuôi con

3

chung Nguyễn Trung H1, sinh ngày 21/9/2015; Giao cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Trung K, sinh ngày 07/9/2013 cho đến khi các con chung thành niên (đủ 18 tuổi), không ai phải cấp dưỡng cho con chung là phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế của các đương sự.

Về tài sản chung: chị Nguyễn Thị H xác nhận vợ chồng không có tài sản chung.

Về nợ chung: không có nên không đề cập.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với anh Nguyễn Tuấn T hiện cư trú tại thành phố C nên Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả thụ lý giải quyết với quan hệ pháp luật “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” là đúng quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa anh Nguyễn Tuấn T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa nên hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Tuấn T là hôn nhân hợp pháp, hai anh chị kết hôn hợp pháp vào năm 2012 tại UBND phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh trên cơ sở tự nguyện, trước khi kết hôn anh chị có thời gian tìm hiểu nhau 08 tháng.

Sau khi kết hôn anh chị Hằng T2 chung sống cùng gia đình bên chồng tại phường C, thành phố C, vợ chồng chung sống đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng khó khăn về kinh tế dẫn đến cãi chửi nhau; đến năm 2018 vợ chồng anh chị đến tỉnh Bắc Ninh tìm việc làm, vợ chồng thuê trọ sống chung được 2- 3 tháng thì anh T2 về Cẩm P, từ đó vợ chồng sống xa nhau, mỗi người ở một nơi; từ năm 2020 đến nay vợ chồng anh chị sống ly thân, nay chị Nguyễn Thị H yêu cầu được ly hôn anh Nguyễn Tuấn T; xét thấy mâu thuẫn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Tuấn T đã trầm trọng, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã nhiều lần triệu tập nhưng anh T đều vắng mặt nên không thể có điều kiện để hàn gắn hôn nhân giữa hai anh chị; vậy nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H đối với anh Nguyễn Tuấn T là có căn cứ, phù hợp theo theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

- Về con chung: Vợ chồng anh chị Hằng T2 có 02 con chung là Nguyễn Trung K, sinh ngày 07/9/2013 và Nguyễn Trung H1, sinh ngày 21/9/2015, Hiện con chung Nguyễn Trung K đang sống cùng gia đình ngoại và theo học tại trường THCS T3 thuộc huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, con chung Nguyễn Trung H1 đang sống cùng anh T2 tại gia đình nhà nội. Nay tại phiên tòa chị H yêu cầu được nuôi dưỡng con chung Nguyễn Trung K, anh T2 có trách nhiệm nuôi dưỡng con chung Nguyễn Trung H1, hai bên không ai phải cấp dưỡng cho con chung; xét thấy yêu

4

cầu nuôi con chung của chị H là phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế của hai bên đương sự nên chấp nhận.

Về tài sản chung, nợ chung: chị Nguyễn Thị H trình bày vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung nên không đề cập tại Tòa án.

[3] Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định.

[4] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H; chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Tuấn T.

Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Nguyễn Trung Kiên, sinh ngày 07/9/2013; Giao anh Nguyễn Tuấn T có trách nhiệm trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Nguyễn Trung H1, sinh ngày 21/9/2015 cho đến khi các con chung thành niên (đủ 18 tuổi); Hai bên đương sự không ai phải cấp dưỡng cho con chung và có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chung: chị Nguyễn Thị H trình bày vợ chồng không có tài sản chung.

Về nợ chung: không có nên không đề cập.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002335 ngày 14/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả.

Án xử công khai sơ thẩm nguyên đơn chị Nguyễn Thị H có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn anh Nguyễn Tuấn T vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

- VKSND tp Cẩm Phả;

- Chi cục THADS tp Cẩm Phả;

- UBND phường Cẩm Thành, thành phố Cẩm Phả, Tỉnh Quảng Ninh;

- Các đương sự;

- Lưu HSVA

- Lưu VP.

TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thị Gái

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2024/HNGĐ-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 55/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger