|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ TỈNH SÓC TRĂNG Bản án số: 55/2024/DS-ST Ngày: 25-7-2024 V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng" |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Tuyết Kha
Các hội thẩm nhân dân: Ông Lâm Quang Toản
Bà Lâm Thị Loan Em
Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Huệ Chi - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Thư - Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 79/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 5 năm 2024, về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2024/QĐST-DS ngày 15 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N.
Địa chỉ trụ sở: Số B, L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V, Tổng giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Anh T, Giám đốc Ngân hàng N – Chi nhánh huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Theo văn bản ủy quyền số 2965/QĐ-NHNN-PC ngày 27/12/2019.
Địa chỉ: Số B, đường T, ấp A, thị trấn P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
Người đại diện theo ủy quyền của ông T: Ông Trần Thanh H – Trưởng phòng Khách hàng A chi nhánh T. (có mặt)
- Bị đơn:
1/ Ông Đỗ Văn C, sinh năm 1983 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp A, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
2/ Bà Đàm Thị Hồng M, sinh năm 1989 (vắng mặt, có đơn)
Địa chỉ: Khóm V, phường C, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 08/01/2024 và tại phiên toà người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, ông Trần Thanh H trình bày:
Ngày 05/01/2021, Ngân hàng N (gọi tắt Ngân hàng) với bà Đàm Thị Hồng M thống nhất ký hợp đồng tín dụng số 7607-LAV-202100015 cho bà M vay số tiền 60.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, mục đích vay để chi phí mua sắm vật dụng sinh hoạt gia đình. Để đảm bảo cho khoản vay bà Đàm Thị Hồng M có giao cho Ngân hàng giữ hộ 01 tài sản là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CN 609018, số vào sổ cấp CS03923 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp ngày 20/11/2015, đất tọa lạc tại ấp A, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (Ngân hàng cho vay theo Nghị định 55/2015/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn) chứ không có làm hợp đồng thế chấp. Tính đến hôm nay bà Đàm Thị Hồng M không thực hiện đúng theo hợp đồng làm phát sinh nợ xấu nên Ngân hàng có quyền thu hồi nợ trước hạn theo quy định tại khoản 7 Điều 9 thỏa thuận khác trong hợp đồng.
Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Đỗ Văn C và bà Đàm Thị Hồng M có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền còn nợ tính đến ngày 25/7/2024 là 70.494.247 đồng (bảy mươi triệu bốn trăm chín mươi bốn nghìn hai trăm bốn mươi bảy đồng), trong đó nợ gốc 60.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 9.409.315 đồng (Chín triệu bốn trăm lẽ chín nghìn ba trăm mười lăm đồng), lãi quá hạn 1.084.932 đồng (Một triệu không trăm tám mươi bốn nghìn chín trăm ba mươi hai đồng). Trường hợp ông C và bà M không trả được nợ thì yêu cầu xử lý theo qui định pháp luật để trả hết nợ gốc, lãi phát sinh và mọi khoản phí thi hành án.
- Bị đơn bà Đàm Thị Hồng M vắng mặt nhưng có lời trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 15/7/2024 như sau:
Tôi và ông Đỗ Văn C (lúc đó còn là vợ chồng, tôi không nhớ rõ năm nào nhưng lúc đó đang mang bầu đứa út) có bàn tính với nhau đi vay tiền Ngân hàng N số tiền 60.000.000 đồng. Sau khi vay tiền về thì trả tiền phân, chi phí trong gia đình và lo cho con bị bệnh hết. Ông C biết việc tôi vay tiền và có ký tên vào giấy ủy quyền. Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thì tôi đồng ý trả nợ cho Ngân hàng như ngân hàng yêu cầu nhưng hiện nay hoàn cảnh khó khăn nên xin trả dần mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi trả dứt nợ và yêu cầu ông Đỗ Văn C phải có trách nhiệm cùng tôi trả số nợ này cho Ngân hàng vì đây là nợ chung của vợ chồng khi còn sống chung. Tôi vay số nợ này ông C biết, mục đích vay là chi trả sinh hoạt phí trong gia đình. Tôi và ông Cao ly h vào khoảng tháng 02 tháng 03 năm 2023 tôi không nhớ rõ. Sau khi ly hôn thì tôi chuyển về Khóm V, phường C, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng sinh sống. Tôi đồng ý vụ án được giải quyết tại Tòa án huyện T, khi ly hôn có thỏa thuận bên ngoài là 02 công đất mà Ngân hàng giữ giấy là mỗi người một công, nhưng tôi giao lại đất cho ông C làm để lo cho đứa con ở chung với ông C và đóng lãi cho Ngân hàng. Khi vay tôi có giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do tôi đứng tên cho Ngân hàng giữ chứ không có thế chấp. Nguồn gốc thửa đất là do mẹ tôi cho tôi mượn tiền để mua nên tôi đứng tên đất.
- Bị đơn ông Đỗ Văn C vắng mặt nhưng có lời trình bày tại biên bản lấy lời khai và biên bản hòa giải cùng ngày 03/6/2024, như sau:
Ông và bà Đàm Thị Hồng M đã ly hôn được Tòa án nhân huyện T giải quyết cho ly hôn cách nay khoảng hơn 01 năm mà không nhớ rõ thời gian cụ thể. Về khoản nợ vay Ngân hàng yêu cầu thì ông không có vay tiền của Ngân hàng N - Chi nhánh huyện T cũng không biết việc bà M vay tiền của Ngân hàng, chữ ký trong hợp đồng ủy quyền giữa ông với bà M được Ngân hàng cung cấp không phải chữ ký của ông nên ông không đồng ý có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng. Trong quá trình giải quyết vụ án ông Đỗ Văn C không yêu cầu giám định chữ viết, chữ ký của ông trong Giấy ủy quyền lập ngày 01 tháng 7 năm 2019 giữa ông và bà Đàm Thị Hồng M.
- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện đúng các quy định về tố tụng. Nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc các bị đơn ông Đỗ Văn C và bà Đàm Thị Hồng M phải trả cho nguyên đơn số tiền như yêu cầu và phải chịu lãi suất theo quy định. Buộc bị đơn phải chịu các chi tố tụng theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ngân hàng Nông nghiệp khởi kiện yêu cầu bà Đàm Thị Hồng M và ông Đỗ Văn C thanh toán tiền vốn vay và lãi suất theo hợp đồng tín dụng nên xác định quan hệ pháp luật là Tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản Điều 39 và điểm g khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét hợp đồng tín dụng:
Ngày 05 tháng 01 năm 2021 Ngân hàng và Đàm Thị Hồng M có ký kết hợp đồng tín dụng số 7607 – LAV-202100015 ngày 05/01/2021, thời hạn vay 60 tháng, hạn trả vào ngày 06 tháng 4 năm 2024, lãi suất vay 12%/năm, lãi suất quá hạn 150%/ lãi suất trong hạn. Bà M thừa nhận có ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng để vay số tiền trên. Căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự quy định “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Như vậy, việc ký kết hợp đồng tín dụng giữa các đương sự là thực tế có xảy ra. Trong quá trình vay vốn bà Đàm Thị Hồng M đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng theo như thỏa thuận.
[2.2] Xét về trách nhiệm thanh toán nợ cho Ngân hàng:
Nội dung hợp đồng tín dụng ghi nhận bà Đàm Thị Hồng M vay vốn số tiền 60.000.000 đồng, mục đích vay là để chi phí sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, đáp ứng nhu cầu đời sống sản xuất kinh doanh và chi phí của gia đình. Ông Đỗ Văn C tuy nói không biết và không có sử dụng vốn vay không trực tiếp ký kết hợp đồng tín dụng nhưng việc bà M vay vốn ngân hàng cung cấp Giấy ủy quyền ngày 05 tháng 01 năm 2021 ông Cao ủy q cho bà M vay vốn (bl 11), cùng ngày với ngày bà M lập hợp đồng tín dụng tại Ngân hàng (b1 05). Trong quá trình giải quyết vụ án ông C ông không yêu cầu giám định chữ viết, chữ ký của ông trong Giấy ủy quyền lập ngày 05/01/2021.
Hội đồng xét xử thấy rằng, khoản vay của bà M quá trình vay vốn bà M đã vi phạm hợp đồng tín dụng, cụ thể vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà M và ông C thanh toán nợ vay và lãi suất. Bà M và ông C đã được Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị công nhận thuận tình ly hôn tại Quyết định số 53/2023/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2023, về tài sản chung và nợ chung ông C không có yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Điều 60 Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ, chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp, vợ, chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác”. Điều 27, khoản 1 Điều 30, Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình quy định “vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình”, như vậy việc bà M vay vốn Ngân hàng là để phục vụ cuộc sống gia đình và khoản nợ này hình thành trong thời kỳ hôn nhân của bà M và ông C do đó Ngân hàng yêu cầu bà M và ông C có trách nhiệm thanh toán nợ là có cơ sở được chấp nhận toàn bộ theo quy định tại Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự và khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.
Buộc bà Đàm Thị Hồng M và ông Đỗ Văn C có trách nhiệm liên đới thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền vốn vay và lãi suất tính đến ngày 25/7/2024 là 70.494.247 đồng (trong đó vốn gốc là 60.000.000 đồng, lãi là trong hạn 9.409.315 đồng, lãi quá hạn 1.084.932 đồng).
Kể từ ngày 26/7/2024 bà Đàm Thị Hồng M và ông Đỗ Văn C còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.
[3] Về án phí: Do yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận toàn bộ nên bà Đàm Thị Hồng M và ông Đỗ Văn C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 3.524.712 đồng (Ba triệu năm trăm hai mươi bốn nghìn bảy trăm mười hai đồng) theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nguyên đơn Ngân hàng N không phải chịu án phí và được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.637.000 đồng (Một triệu sáu trăm ba mươi bảy nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003888 ngày 02/5/2024.
[4] Qua phân tích như trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát huyện T là có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản Điều 39 và điểm g khoản 1 Điều 40, khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự Điều 27, khoản 1 Điều 30, Điều 37, Điều 60 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng N. Buộc bà Đàm Thị Hồng M và ông Đỗ Văn C có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho Ngân hàng N tổng số tiền vốn vay và lãi suất tính đến ngày 25/7/2024 là 70.494.247 đồng (bảy mươi triệu bốn trăm chín mươi bốn nghìn hai trăm bốn mươi bảy đồng), trong đó nợ gốc 60.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 9.409.315 đồng (Chín triệu bốn trăm lẽ chín nghìn ba trăm mười lăm đồng), lãi quá hạn 1.084.932 đồng (Một triệu không trăm tám mươi bốn nghìn chín trăm ba mươi hai đồng)
Kể từ ngày 26/7/2024 bà Đàm Thị Hồng M và ông Đỗ Văn C còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Bà Đàm Thị Hồng M và ông Đỗ Văn C phải có nghĩa vụ liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 3.524.712 đồng (Ba triệu năm trăm hai mươi bốn nghìn bảy trăm mười hai đồng) nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Trị. Ngân hàng N không phải chịu án phí và được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.637.000 đồng (Một triệu sáu trăm ba mươi bảy nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003888 ngày 02/5/2024.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân nơi đương sự cư trú để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận: - Các đương sự.
- VKSND huyện Thạnh Trị; - Chi cục THADS huyện huyện Thạnh Trị;
- Lưu hồ sơ vụ án.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Tuyết Kha |
Bản án số 55/2024/DS-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 55/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Nông nghiệp yêu cầu bà Đàm Thị Hồng Mãnh trả tiền vay
