|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 55/2024/HSST Ngày: 25/07/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Minh
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Phúc Lâm
2. Ông Nguyễn Như Khôi
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Đào Văn Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024. Tại Điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An; Điểm cầu thành phần: Trại tạm giam công an tỉnh N.
Xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 56/2024/HSST ngày 01 tháng 7 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 07 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Chu Văn Đ; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 26/11/1998 tại huyện N, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm F, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: (Không xác định); con bà: Nguyễn Thị C, sinh năm: 1968; Vợ, con: chưa có; Tiền sự: không; Tiền án: Ngày 20/7/2021, bị TAND huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 09/01/2023, bị TAND thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/4/2024 đến nay; có mặt.
Bị hại: Anh Phạm Văn H, sinh năm 1987. Trú tại: xóm F, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1963. Trú tại: xóm 6, xã Nam Anh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1975. Trú tại: khối Đ, phường H, TP V, tỉnh Nghệ An; vắng mặt
- Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1968. Trú tại: xóm F, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 04/4/2024, Chu Văn Đ sau khi chơi tại quán C1 thuộc xóm Đ, xã X, huyện N, tỉnh Nghệ An ra về thì nhìn thấy một chiếc xe mô tô mang BKS 37M1 - 920.04, nhãn hiệu Honda, loại Wave alpha, màu trắng của anh Phạm Văn H (sinh năm 1987, trú tại xóm C, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An) để ở sân quán, ổ khóa xe vẫn còn cắm chìa khóa nên Đ nảy sinh ý định lấy trộm chiếc xe trên để bán lấy tiền tiêu xài. Đ quan sát xung quanh thấy không có ai nên đi lại dùng tay phải mở khóa và lên xe nổ máy điều khiển xe rời khỏi quán. Sau đó, Đ điều khiển xe đi đến nhà bà Nguyễn Thị H1 (sinh năm 1975, trú tại khối Đ, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An) để vay số tiền 4.000.000 đồng. Do quen biết nên bà H1 tin tưởng cho Đ vay 4.000.000 đồng và yêu cầu Đ để lại chiếc xe mô tô BKS 37M1 – 920.04 và giấy chứng đăng ký xe để làm tin. Chị H1 có hỏi giấy tờ xe nhưng do xe trộm cắp nên Đ nói “giấy tờ xe mẹ đang cầm” (do lần trước đến vay tiền, Đ có đi xe mô tô, màu trắng của Đ đến và để lại chiếc xe đó). Bà H1 nói “xe của em thì chị giữ lại làm tin còn xe trộm cắp thì chị không nhận đâu”. Sau khi thỏa thuận vay tiền xong, Đ viết vào một quyển sổ có sẵn của bà H1 với nội dung: “tôi có mượn chị H1 4 triệu và gửi lại xe mang biển kiểm soát 37M1 – 920.04” và ký tên “Đ, Chu Văn Đ”. Sau khi Đ nhận từ chị H1 số tiền 4.000.000 đồng. Đến khoảng 14 giờ 00 phút ngày 05/4/2024, do đã tiêu xài hết tiền nên Đ tiếp tục quay lại gặp bà H1 để mượn thêm số tiền 1.000.000 đồng.
Ngày 07/4/2024, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên Chu Văn Đ đến Cơ quan Công an xã X, huyện N xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 10 ngày 08/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện N kết luận: 01 (một) chiếc xe mô tô mang biển kiểm soát 37M1-920.04, nhãn hiệu Honda, số loại Wave alpha, màu trắng đen bạc, số máy:JA39E233217, số khung RLHJA3922MY213501 được đưa vào sử dụng từ tháng 8 năm 2021, có giá trị tại thời điểm ngày 04/04/2024 là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
Tại Bản cáo trạng số 64/CT-VKSNĐ ngày 01/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn đã truy tố bị cáo Chu Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn giữ nguyên nội dung như Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự sự xử phạt bị cáo Chu Văn Đ mức án từ 32-36 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu nên không xem xét; Về xử lý vật chứng: 01 chiếc xe mô tô mang biển kiểm soát 37M1 – 920.04, nhãn hiệu Honda, số loại Wave alpha, màu trắng đen bạc; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang biển kiểm soát 37M1 - 920.04 mang tên Nguyễn Thị V. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu theo đúng quy định.
Về Án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì; Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến phiên tòa vì trong hồ sơ đã có lời khai đầy đủ, họ cũng không có yêu cầu gì. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người trên là phù hợp với quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; Biên bản tiếp nhận người phạm tội đầu thú; Kết luận định giá; vật chứng đã được thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 04/4/2024, tại xóm Đ, xã X, huyện N, tỉnh Nghệ An, Chu Văn Đ có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda, Wave alpha, màu trắng đen bạc, biển kiểm soát 37M1 – 920.04 của anh Phạm Văn H có trị giá 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS. Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2.2]. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo hiểu được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật và bản thân bị cáo đã từng bị xét xử về tội “ Trộm cắp tài sản” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn cố ý tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, chứng tỏ bị cáo rất coi thường pháp luật. Vì vậy, cần phải xét xử nghiêm đối với bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ răn đe giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo đã đến cơ quan công an đầu thú về hành vi của mình; bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[2.3]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 BLHS thì người phạm tội có thể bị bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên xét thấy bị cáo hiện tại không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[2.4]. Đối với hành vi của bà Nguyễn Thị H1 đã cho bị cáo vay tiền và để lại chiếc xe mô tô BKS 37M1 - 920.04 để làm tin, bà H1 không biết chiếc xe này là tài sản do trộm cắp mà có nên Cơ quan CSĐT Công an huyện N không xem xét xử lý là đúng quy định của pháp luật.
[2.5]. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt nhưng trong quá trình điều tra, họ đã được nhận lại tài sản và thoả thuận về dân sự, không có yêu cầu gì thêm nên miễn xét.
[2.6]. Về xử lý vật chứng: 01 chiếc xe mô tô mang biển kiểm soát 37M1 – 920.04, nhãn hiệu Honda, số loại Wave alpha, màu trắng đen bạc, số máy: JA39E2332172, số khung RLHJA3922MY213501; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang biển kiểm soát 37M1 - 920.04 mang tên Nguyễn Thị V. Các vật chứng đã được trả lại cho chủ sở hữu đúng quy định nên miễn xét.
[3]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Chu Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Chu Văn Đ 33 (ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam ( ngày 07/4/2024).
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Chu Văn Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Minh |
Bản án số 55/2024/HSST ngày 25/07/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 55/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chu Văn Đ phạm tội " trộm cắp tài sản"
