Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 55/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 24-6-2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp về

nuôi con”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Quang Bảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lương Thanh Nhàn;

2. Ông Lê Văn Đặng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 333/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Cẩm N, sinh năm 1989; địa chỉ thường trú: Số G khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Lê Thanh P, sinh năm 1981; địa chỉ thường trú: Số G khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 01/4/202, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn (bà N) trình bày:

Bà N và ông P chung sống với nhau năm 2009, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thị xã B (nay thành phố B), tỉnh Bình Dương năm 2009.

Trong thời gian chung sống, vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, cãi vả, do bất đồng quan điểm sống. Ông P hay uống rượu bia, hay đập phá đồ đạt trong nhà, ông P chạy xe chở thuê nhưng tiền giữ riêng để ăn nhậu và không chu cấp tiền cho bà N nuôi con, ông P bỏ mặc bà N lo kinh tế gia đình, hai vợ chồng hiện nay sống chung không còn tình cảm, không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà N làm đơn xin ly hôn với ông P.

- Con chung: Trong thời gian chung sống, vợ chồng có 02 con chung tên Lê Ngọc Minh C, sinh ngày 07/10/2010 và Lê Hoàng Gia B, sinh ngày 02/4/2019. Bà N yêu cầu nuôi 02 con chung và không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con. Lý do bà yêu cầu nuôi hai con là do bà thu nhập cao hơn ông P. Bà có nhà trọ và kiốt cho thuê, bà có thu nhập từ việc làm tự do như hớt tóc, giặt sấy với thu nhập mỗi tháng khoảng 30.000.000 đồng/tháng. Ngoài ra, hai con đang học gần nhà bà nên tiện cho việc đưa rước các con đi học hằng ngày.

- Tài sản chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại bản tự khai nộp Tòa án, trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa bị đơn (ông P) trình bày:

Ông P thống nhất với lời trình bày của bà N về quá trình chung sống, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thị xã B (nay thành phố B), tỉnh Bình Dương năm 2009, có 02 con chung.

- Về hôn nhân: Trước yêu cầu xin ly hôn của bà N thì ông P không đồng ý ly hôn vì ông còn thương vợ thương con. Tuy vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn cãi vả nhưng mâu thuẫn vợ chồng chỉ là mâu thuẫn nhỏ. Nguyên nhân cãi vả là do ông có thu nhập không bằng bà N nên bà N không tôn trọng ông. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng chủ yếu xuất phát từ việc bà N có người khác nên muốn ly hôn với ông.

- Con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Lê Ngọc Minh C, sinh ngày 07/10/2010 và Lê Hoàng Gia B, sinh ngày 02/4/2019. Nếu Tòa án giải quyết cho ly hôn thì ông P đồng ý giao cháu Lê Hoàng Gia B cho bà N chăm sóc nuôi dưỡng và ông yêu cầu được nuôi cháu Lê Ngọc Minh C, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Lý do ông yêu cầu nuôi cháu C là do ông đang hành nghề chạy xe ba gác với mức thu nhập khoảng 8.000.000 đồng/tháng nên đủ nuôi dưỡng chăm sóc cháu C.

- Tài sản chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa:

- Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, T, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định củapháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng.

- Về nội dung vụ án:

+ Về quan hệ hôn nhân: Xét mâu thuẫn giữa các đương sự đã đến mứctrầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu được ly hôn với bị đơn.

+ Về con chung: Nguyên đơn có điều kiện thu nhập kinh tế ổn định, đủ điều kiện chăm sóc các con và cháu C có nguyện vọng được ở với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn. Do đó, để không làm thay đổi tâm sinh lý của các con nên giao cháu C và cháu B cho nguyên đơn nuôi dưỡng, chăm sóc.

+ Về cấp dưỡng: Nguyên đơn không có yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật: Ngày 01/4/2024, nguyên đơn bà Ngô Thị Cẩm N có đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và tranh chấp nuôi con với ông Lê Thanh P nên đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại Điều 51, Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền: Nguyên đơn bà N khởi kiện ông P về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Ông P hiện đang cư trú tại khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà N và ông P kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào năm 2009 tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 106 ngày 18/11/2009 nên quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông P là hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[2.2] Bà N yêu cầu được ly hôn với ông P với lý do vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn cãi vả do bất đồng quan điểm sống, ông P hay uống rượu bia, hay đập phá đồ đạc trong nhà, ông P chạy xe chở thuê nhưng tiền giữ riêng để ăn nhậu và không chu cấp tiền cho bà N nuôi con, ông P bỏ mặc bà N lo kinh tế gia đình, hai vợ chồng hiện nay sống chung không còn tình cảm, không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Trước yêu cầu xin ly hôn của bà N thì ông P không đồng ý ly hôn vì ông P còn thương vợ thương con, mâu thuẫn vợ chồng chỉ là mâu thuẫn nhỏ, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng chủ yếu xuất phát từ việc bà N có người khác nên muốn ly hôn với ông P. Hội đồng xét xử xét thấy, mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc; để đạt được mục đích đó vợ chồng cần phải thương yêu, tin tưởng, quý trọng, chăm sóc, cùng nhau vun đắp, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Đây cũng là quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng được quy định tại Điều 19, Điều 21 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Tuy nhiên gia đình bà N và ông P không đạt được điều đó. Theo kết quả xác minh tại địa phương ngày 09/5/2024 thì vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng không còn quan tâm lẫn nhau, mạnh ai nấy sống, vợ chồng không giúp đỡ nhau phát triển gia đình. Hơn nữa, ông P không đồng ý ly hôn với bà N nhưng không đưa ra được giải pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng và bà N kiên quyết xin ly hôn. Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông P đã trầm trọng, đời sống không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc bà N yêu cầu ly hôn với ông P là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[2.3] Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là cháu Lê Ngọc Minh C, sinh ngày 07/10/2010 và Lê Hoàng Gia B, sinh ngày 02/4/2019. Bà N yêu cầu được nuôi 02 con chung và không yêu cầu ông P phải cấp dưỡng nuôi con. Ông P đồng ý giao cháu Lê Hoàng Gia B cho bà N chăm sóc nuôi dưỡng và ông yêu cầu được nuôi cháu Lê Ngọc Minh C, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, bà N có việc làm, có thu nhập kinh tế ổn định và cao hơn nên đảm bảo đủ điều kiện để nuôi dưỡng cháu C và cháu B phát triển bình thường; ngoài ra, cháu C đã trên 07 tuổi và cháu có nguyện vọng sống chung với bà N. Do đó, Hội đồng xét xử giao cháu C và cháu B cho bà N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.

[2.4] Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Bà N không yêu cầu ông P thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, đây là ý chí tự nguyện của bà N nên Tòa án ghi nhận.

[2.5] Tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Xét ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát là phù hợp nên chấp nhận.

[4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 235, 266, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Căn cứ vào các Điều 8, 9, 19, 21, 51, 53, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ngô Thị Cẩm N về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con đối với bị đơn ông Lê Thanh P.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị Cẩm N được ly hôn với ông Lê Thanh P.

2. Về con chung: Giao con chung tên Lê Ngọc Minh C, sinh ngày 07/10/2010 và Lê Hoàng Gia B, sinh ngày 02/4/2019 cho bà Ngô Thị Cẩm N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Ngô Thị Cẩm N không yêu cầu ông Lê Thanh P cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà Ngô Thị Cẩm N và ông Lê Thanh P được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

4. Về án phí: Bà Ngô Thị Cẩm N chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí mà bà N đã nộp theo biên lai thu số 0000912 ngày 01 tháng 4 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Bến Cát;
  • - CC THA DS thành phố Bến Cát;
  • - UBND phường Chánh Phú Hòa, thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương (số 106/2009).
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Văn Quang Bảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2024/HNGĐ-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 55/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngô Thị Cẩm N-Lê Thanh P
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger