Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 55/2024/HS-ST

Ngày: 24/6/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Việt Hùng;
  • Thẩm phán: Ông Nguyễn Hải Vinh.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Thành, ông Đỗ Văn Long, ông Nguyễn Đức Kha.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Dũng- Kiểm sát viên.

Trong ngày 24/6/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 34/2024/TLST-HS ngày 25/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:144/2024/QĐXXST- HS ngày 10/6/2024 đối với bị cáo:

  • - Họ và tên: Hà Văn D, sinh năm 1987; Tên gọi khác: Không.
  • - Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Xóm V, xã B, huyện M, tỉnh Hòa Bình;
  • Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12; Họ tên cha: Hà Văn N, sinh năm 1957; Họ tên mẹ: Hà Thị V, sinh năm 1958; Gia đình có 04 chị em, bản thân là thứ tư; Vợ, con: Chưa có.
  • - Tiền án: Bản án số 40/HSST ngày 30/10/2012, Toà án nhân dân tỉnh Hoà Bình xử phạt Hà Văn D 16 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Chấp hành xong bản án ngày 31/3/2023.
  • - Nhân thân:
    • + Ngày 08/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H khởi tố Hà Văn D về tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Ngày 19/4/2024, Viện KSND tỉnh H đã truy tố Hà Văn D về tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 3 Điều 251 BLHS.
  • Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).
  • - Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Vũ Bá C thuộc Văn phòng L – Đoàn luật sư tỉnh B. Có mặt.
  • - Trợ giúp viên pháp lý cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Như Q – Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B( Có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Minh H, sinh năm 2002.(Vắng mặt).
  2. Địa chỉ: Đ, Cầu C, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

  3. Chị Mai Thị T, sinh năm 2004.(Vắng mặt).
  4. Địa chỉ: Đ, Cầu C, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

* Người chứng kiến: Ông Bùi Văn T1, sinh năm 1956.(Vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ dân phố N, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 50 phút ngày 21/12/2023, tại đoạn đường thuộc tổ dân phố N, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang, tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B phát hiện bắt quả tang Hà Văn D, sinh năm 1987 ở xóm V, xã B, huyện M, tỉnh Hòa Bình có biểu hiện hoạt động phạm tội về ma tuý. Thu giữ trong túi đeo chéo trước ngực của D: 01 bọc nilon màu đen, 01 gói giấy bạc; thu trong túi quần bên phải của D đang mặc 01 gói nilon. D khai đó là ma tuý tổng hợp dạng hồng phiến và ma tuý Heroine, D được thuê vận chuyển. Tổ công tác tiến hành niêm phong vật chứng nghi ma tuý và phong bì ký hiệu “QT”, mời người làm chứng, đưa D cùng vật chứng về Công an thị trấn Cao Thượng để làm việc.

Tại Công an thị trấn C, tổ công tác tiến hành mở niêm phong vật chứng nghi ma tuý để kiểm tra và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với D, cụ thể:

- Trong túi chéo:

  • + 01 gói giấy bạc bên trong đựng 01 gói nilon màu đen, bên trong đựng gói nilon màu xanh đựng chất cục bột màu trắng, nghi là ma túy Heroine.
  • + 01 gói nilon màu đen bên trong đựng 03 bọc giấy màu trắng được quấn bên ngoài bằng dây chun nịt màu đen. Bên trong 03 bọc giấy màu trắng là bọc giấy nilon màu đen được quấn bằng dây chun nịt màu đen, trong 03 bọc nilon màu đen là 03 gói giấy bạc. Trong đó: 02 bọc, mỗi bọc đều chứa 05 túi nilon màu xanh, một đầu mỗi túi đều có rãnh khóa nhựa viền màu đỏ; 01 bọc bên trong có 03 túi nilon màu xanh, một đầu mỗi túi đều có rãnh khóa nhựa viền màu đỏ và 01 túi nilon màu hồng, một mặt có chữ A màu trắng. Tổng số 14 túi, bên trong các túi đều chứa các viên nén hình tròn màu hồng đỏ, màu xanh, nghi là ma túy tổng hợp.

- Trong túi quần bên trái: 01 gói nilon màu hồng đỏ bên trong đựng túi nilon màu trắng đã hàn kín, đựng các viên nén hình tròn màu hồng đỏ, màu xanh, nghi là ma tuý.

Sau khi kiểm tra, tổ công tác tác đã mời người chứng kiến, niêm phong lại số vật chứng nghi là ma tuý vào phong bì ký hiệu “QT1” và lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang đối với D. Tiến hành test nhanh nước tiểu của D, kết quả dương tính với chất ma tuý MDMA, MET và MOR.

Ngoài ra còn thu giữ của D 02 điện thoại di động, được niêm phong vào phong bì ký hiệu “ĐT Duẩn”.

Kết luận giám định số 2602/KL- KTHS ngày 28/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Trong 01 phong bì có ký hiệu “QT1” đã được niêm phong gửi giám định:

  • - Trong một gói giấy bạc: Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 gói nilon màu xanh (bên ngoài là 01 gói nilon màu đen) là ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,108 gam.
  • - Các viên nén hình tròn màu hồng đỏ và màu xanh đựng trong 14 (mười bốn) túi nilon (đặc điểm các lớp vỏ bao gói được mô tả chi tiết tại mục 1 phần II trong Kết luận giám định) đều là ma túy, loại Methamphetamine, tổng khối lượng 248,232 gam.
  • - Các viên nén hình tròn màu hồng đỏ và màu xanh đựng trong 01 gói nilon màu trắng được hàn kín (bên ngoài là 01 (một) gói nilon màu hồng đỏ) đều là ma túy, loại Methamphetamine, tổng khối lượng 3,572 gam.

Quá trình điều tra, Hà Văn D khai nhận về diễn biến hành vi phạm tội như sau:

Trước ngày bị bắt khoảng 4-5 tháng, D ngồi uống nước tại khu vực gầm cầu vượt Quốc lộ A thuộc địa phận tỉnh Bắc Ninh thì gặp một người đàn ông giới thiệu tên D1, nhà ở thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang. D nói cho D1 biết bản thân vừa chấp hành xong án phạt tù về tội mua bán ma tuý, nhà ở huyện M, tỉnh Hòa Bình. D1 bảo D nếu có ma tuý hồng phiến giá rẻ thì mang xuống bán cho D1. D và D1 cho nhau số điện thoại để liên lạc. Sau khi trao đổi với D1, D gọi điện cho một người quen biết từ trước, tên là B (D khai quen biết Báo khi đi làm nương rẫy tại xã T, huyện M, tỉnh Hòa Bình). Duẩn hỏi giá ma tuý hồng phiến thì được Báo nói cho biết giá là 2,7 triệu đồng/01 túi. D đồng ý và bảo khi nào mua sẽ liên lạc.

Khoảng 10 ngày trước khi bị bắt, D xuống thị trấn C gặp D1. Tại buổi gặp nhau, D1 hỏi mua của D 02 túi ma tuý hồng phiến, D đồng ý và bảo sẽ bán cho D1 giá gốc là 2,7 triệu/01 túi, D sẽ đi lấy ma tuý, khi nào lấy được ma tuý sẽ thông báo. Sau đó, D gọi điện cho B hỏi mua 02 túi ma tuý hồng phiến, hẹn gặp nhau để giao dịch vào ngay đêm hôm đó tại rìa đường QL6 cách Cây xăng dầu của Công ty TNHH H2 (còn gọi là cây xăng X) thuộc bản Co Chàm, xã L, huyện V, tỉnh Sơn La khoảng 200 mét về hướng Sơn La, rồi một mình đi xe mô tô đến điểm hẹn. Khi đến nơi, D gọi điện bảo Báo mang ma tuý ra cho D. Khoảng 30 phút sau D thấy B đi xe mô tô ra đưa cho D 01 gói nilon và bảo bên trong đó có 2 túi hồng phiến. D cầm gói nilon đựng ma túy Báo đưa, cất vào túi quần rồi đưa cho Báo 5,4 triệu đồng. Mua được ma tuý, D tiếp tục đi xe mô tô về, thuê nhà nghỉ ở huyện Q, tỉnh Bắc Ninh. Đến khoảng tối cùng ngày, D nhận được điện thoại của D1 bảo mang ma túy lên thị trấn C, huyện T cho D1. D đi xe mô tô, đem ma tuý đến giao cho D1, nhận tiền bán ma tuý rồi quay về nhà nghỉ.

Khoảng chiều ngày 19/12/2023, D đang ở một nhà nghỉ thuộc huyện Q, tỉnh Bắc Ninh thì nhận được điện thoại của D1 hỏi mua 14 túi ma tuý hồng phiến và một ít ma túy Heroine. D đồng ý và thống nhất với D1 giá 4,2 triệu đồng/túi ma túy hồng phiến và hẹn trưa ngày 21/12/2023 sẽ giao dịch ở khu vực quán nước ngã ba đường thuộc tổ dân phố N, thị trấn C, huyện T. Trao đổi với D1 xong, D gọi điện cho B hỏi mua 14 túi ma túy hồng phiến và 100.000 đồng ma túy Heroine, B đồng ý, hẹn ngày 20/12/2023 thì giao dịch tại khu vực lần trước. Do không đủ tiền nên D bảo B cho nợ tiền 4 túi ma túy hồng phiến, D sẽ trả trước tiền 10 túi ma túy hồng phiến là 27 triệu đồng, B đồng ý. Sáng ngày 20/12/2023, D gọi xe taxi đi lên Hà Nội, rồi tiếp tục gọi xe taxi đi lên khu vực đã hẹn với Báo. Khoảng đầu giờ chiều cùng ngày, D đến nơi. D gọi điện cho B, thì Báo nói gói tiền vào túi nilon, vứt ở rãnh rìa đường cạnh chỗ D đứng, Báo ra lấy tiền và sẽ thả túi nilon đựng ma tuý xuống, D làm theo chỉ dẫn của Báo và đứng đợi. Khoảng 30-40 phút sau, D thấy B đi xe mô tô, loại Wave màu đỏ, vành đúc, ra gần chỗ D, D chỉ Báo chỗ để tiền, Báo nhặt túi nilon đựng tiền sau đó đi qua chỗ D đứng khoảng 10 mét, thả xuống đất một túi nilon màu đỏ rồi phóng xe đi. D đi bộ đến và nhặt túi nilon màu đỏ lên, kiểm tra bên trong thì thấy có 03 hộp sữa nhãn hiệu Fami và một chai nước đựng dung dịch màu đen bên ngoài thân chai nước dán 01 túi nilon màu đen. D lấy túi nilon màu đen dán trên thân chai nước đút vào túi quần rồi vất chai nước đi; cho túi nilon màu đỏ đựng 03 hộp sữa Fami vào túi đeo chéo của D. Mua được ma tuý D lại đón xe ô tô quay về thuê nhà nghỉ ở huyện Q, tỉnh Bắc Ninh. Tại đây, D bỏ số ma tuý mua được ra

kiểm tra thì thấy bên trong mỗi hộp sữa Fami đều đựng 03 gói nilon màu đen đựng các túi ma tuý hồng phiến; trong túi nilon màu đen có 01 gói giấy bạc đựng ma tuý Heroine. Kiểm tra xong, D vất túi nilon màu đỏ, vỏ hộp sữa vào thùng rác của nhà nghỉ, còn 03 gói nilon màu đen đựng các túi ma tuý hồng phiến D mở ra lấy ở trong mỗi túi vài viên (được khoảng 30 viên), rồi dùng giấy màu trắng, túi nilon màu đen gói lại; D lấy một ít ma tuý Heroine và ma tuý hồng phiến ra sử dụng; rồi gói số ma tuý hồng phiến lấy ra cất vào túi quần bên trái mục đích để sử dụng và bán; cất số ma tuý hồng phiến và ma tuý H1 đem bán cho D1 vào túi đeo chéo. Khoảng 09 giờ ngày 21/12/2023, D nhận được điện thoại của D1 mang ma tuý lên cho D1. Khoảng 10 giờ 30 cùng ngày, D đến điểm hẹn nhưng không thấy D1 nên D gọi điện thoại cho D1, thông báo đã đến nơi. D1 bảo chờ một lát. D xuống xe đi dọc đường để đợi D1 thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, bắt giữ.

Về số vật chứng đã thu giữ:

Số vật chứng thu giữ khi bắt quả tang D, Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng theo quy định.

Bản cáo trạng số 10/CT-VKS-P1 ngày 24/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Hà Văn Duẩn về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo Điểm h, Khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích các tình tiết của vụ án đã giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng Điểm h Khoản 4 Điều 251 BLHS, Điểm s Khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 56, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015:

Xử phạt bị cáo Hà Văn D 20 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của bản án số 19/2024/HSST ngày 10/5/2024 của Toà án tỉnh Hoà Bình đã xét xử, tuyên phạt Hà Văn D 17 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Buộc bị cáo D phải chấp hành chung cho cả 02 bản án là 30 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 21/12/2023.

* Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 BLHS; Khoản 2 Điều 106 BLTTHS 2015:

- Tịch thu tiêu huỷ:

  • + 01 (hộp) phong bì dán kín, được niêm phong bằng dấu đỏ của phòng K Công an tỉnh B và chữ ký cùng tên của Phạm Hữu N1, Trần Văn N2, có ký hiệu “QT1”, bên trong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định (gồm: 0,094 gam ma tuý Heroine, 240,249 gam ma tuý Methamphetamine); 01túi đeo chéo bằng da màu đen.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 02 điện thoại thu giữ của D, được niêm phong trong 01 (một) phong bì dán kín, được niêm phong bằng dấu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B và chữ ký cùng tên của Trần Văn N2, Nguyễn Văn T2, Trần Văn Q1, Hà Văn D, có ký hiệu “ĐT Duẩn”, bên trong đựng 02 điện thoại di động. (01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, loại máy một thân, có số seri 351670058863411; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, loại máy một thân, có số seri: 351951052233964);

3. Về án phí: Áp dụng điểm đ Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Miễn án phí HSST cho bị cáo Hà Văn D.

* Người bào chữa cho bị cáo trình bày tranh luận: Đề nghị HĐXX căn cứ điểm h Khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo dưới 20 năm tù. Bị cáo ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo.

* Bị cáo trình bày tranh luận: Bị cáo nhất trí với quan điểm của luật sư bào chữa, đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo có cơ hội được trở về hòa nhập cộng đồng, làm lại cuộc đời.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đề nghị, không có ý kiến tranh luận gì thêm.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, điều tra viên, của Viện kiểm sát, kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố xét xử: Kể từ khi khởi tố vụ án hình sự, trong giai đoạn điều tra, truy tố vụ án, HĐXX thấy Điều tra viên, Kiểm sát viên và Luật sư bào chữa cho bị cáo đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật, không có vi phạm gì. Tại giai đoạn xét xử sơ thẩm, Kiểm sát viên, người bào chữa thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, không có hành vi, quyết định tố tụng nào vi phạm tố tụng.

[2]. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Những người làm chứng và người chứng kiến đã được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản của Tòa án về thời gian mở phiên tòa nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy quá trình điều tra đã có lời khai của những người này nên việc vắng mặt của họ không trở ngại cho việc xét xử. Do đó, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng trên theo quy định tại Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.

[3]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên toà, bị cáo Hà Văn D đã khai nhận hành vi phạm tội cụ thể:

Hồi 10 giờ 50 phút ngày 21/12/2023, tại đoạn đường thuộc tổ dân phố N, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang, tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B phát hiện bắt quả tang Hà Văn D, sinh năm 1987 ở xóm V, xã B, huyện M, tỉnh Hòa Bình về hành vi mua bán trái phép 251,804 gam ma tuý Methamphetamine và 0,108 gam ma tuý Heroine.

Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra có trong hồ sơ vụ án, lời khai của người làm chứng, lời khai của người chứng kiến, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với các Kết luận giám định, vật chứng thu giữ.

Hành vi của bị cáo Hà Văn D đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4 Điều 251 BLHS. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang nêu trên đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và có căn cứ.

Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy và gây mất trật tự an ninh xã hội, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác và gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo D có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.

[4]. Xét về nhân thân bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu: Bản án số 40/HSST ngày 30/10/2012, Toà án nhân dân tỉnh Hoà Bình xử phạt Hà Văn D 16 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Hà Văn D đã bị kết án về tội đặc biệt nghiêm trọng theo bản án số 40/HSST ngày 30/10/2012 của Toà án nhân dân tỉnh Hoà Bình, chưa được xoá án tích, nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra bị cáo Hà Văn D thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5]. Về hình phạt:

Về hình phạt chính: Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, cần xử phạt bị cáo với mức hình phạt tù có thời hạn tương xứng, cách ly xã hội một thời gian dài đối với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, răn đe phòng ngừa tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Hà Văn D phạm tội mua bán ma túy với mục đích vụ lợi nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, bị cáo là người dân tộc thiểu số, thuộc diện hộ nghèo nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Do bị cáo đang bị tạm giam, áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam các bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

[6]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu, tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định là chất nhà nước cấm lưu hành;
  • - Tịch thu, sung quỹ Nhà nước đồ vật liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo; gồm: 02 (hai) điện thoại di động thu giữ của bị cáo là điện thoại bị cáo sử dụng để liên lạc trong quá trình mua bán ma tuý, là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
  • - Tịch thu, tiêu hủy đồ vật không còn giá trị sử dụng đã thu giữ là 01 túi đeo chéo đựng ma tuý.

[7]. Đối với những vấn đề khác:

Đối với việc D khai ngoài lần bị bắt quả tang, D đã 01 lần bán 02 túi ma tuý hồng phiến cho D1, tuy nhiên ngoài lời khai của D không có chứng cứ nào khác nên không đủ căn cứ xem xét xử lý D về hành vi này. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, ngày 11/4/2024 Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với D là có căn cứ.

Đối với đối tượng tên là D1, Cơ quan điều tra xác định là Lê Văn D2, sinh năm 1989 ở thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Giang. D2 khai quen biết D nhưng không mua bán ma tuý với D, tiến hành đối chất giữa D và D2 nhưng không có kết quả. Xác minh số điện thoại D khai của D2 nhưng không xác định được D2 có sử dụng số điện thoại này; chủ thuê bao số điện thoại này là Trần Văn T3, sinh năm 1997 ở thôn T, xã V, huyện T; kết quả nhận dạng D không biết T3. Ngoài lời khai của D không có chứng cứ nào khác nên không đủ căn cứ để xem xét xử lý D2.

Đối với đối tượng tên là B, D khai không biết địa chỉ cụ thể; xác minh số điện thoại Duẩn khai của Báo nhưng không xác định được. Ngoài lời khai của D không có chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra không xác định được đối tượng này.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình phạt và điều luật áp dụng:

Áp dụng Điểm h Khoản 4 Điều 251 BLHS, Điểm s Khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 56, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Hà Văn D 20 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt 17 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý của bản án số 19/2024/HSST ngày 10/5/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Hoà Bình. Buộc bị cáo D phải chấp hành chung cho cả 02 bản án là 30(Ba mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 21/12/2023.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm a Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu huỷ:

  • + 01 (hộp) phong bì dán kín, được niêm phong bằng dấu đỏ của phòng K Công an tỉnh B và chữ ký cùng tên của Phạm Hữu N1, Trần Văn N2, có ký hiệu “QT1”, bên trong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định (gồm: 0,094 gam ma tuý Heroine, 240,249 gam ma tuý Methamphetamine); 01túi đeo chéo bằng da màu đen.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 02 điện thoại thu giữ của D, được niêm phong trong 01 (một) phong bì dán kín, được niêm phong bằng dấu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B và chữ ký cùng tên của Trần Văn N2, Nguyễn Văn T2, Trần Văn Q1, Hà Văn D, có ký hiệu “ĐT Duẩn”, bên trong đựng 02 điện thoại di động. (01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, loại máy một thân, có số seri 351670058863411; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, loại máy một thân, có số seri: 351951052233964);

(Vật chứng được bàn giao theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/5/2024).

3. Về án phí:

Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hà Văn D

4. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • -TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Cơ quan CSĐT- Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Lưu HS, THS.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Việt Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 55/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: mbmt
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger