|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN TỈNH CÀ MAU ————— |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————— |
Bản án số: 55/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 24-6-2024
V/v “Tranh chấp ly hôn và chia tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Hồng Ngân;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Tạ Huyền Thanh;
Ông Nguyễn Quốc Thống.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Tú Hương là Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau tham gia
phiên tòa: Bà Trương Ngọc Trủi – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 128/2021/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2021 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản, công nợ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Phạm Hằng M, sinh năm 1990; Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau.
Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh Q, sinh năm 1993; Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện hợp pháp cho bị đơn (ủy quyền về phần tài sản chung, công nợ chung) là: Ông Trần Chi L, sinh năm 1975; Địa chỉ: Ấp A, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phạm Văn V, sinh năm 1953; Địa chỉ: Ấp K, xã H, huyện N, tỉnh Cà
Mau.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông V: Luật sư Lê Thanh T Văn phòng luật sư Lê Thanh T thuộc đoàn luật sư tỉnh C; Địa chỉ: Số A, T, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Ông Phạm Văn L1, sinh năm 1986; Địa chỉ: Ấp K, xã H, huyện N, tỉnh Cà
Mau.
- Bà Trần Thị L2, sinh năm 1966; Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu
Giang.
- Bà Phan Hồng L3, sinh năm 1969; Địa chỉ: Ấp K, xã H, huyện N, tỉnh Cà
Mau.
- Bà Phan Thị B, sinh năm 1956; Địa chỉ: Ấp N, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà
Mau.
- Bà Phan Thị H, sinh năm 1962 (tên gọi khác Phước H1); Địa chỉ: Ấp K, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau.
- Ông Nguyễn Văn H2 - Chủ Cửa hàng vật liệu xây dựng Anh D, sinh năm 1986; Địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau.
Chị M, anh Q, ông L, Luật sư T, ông V, bà L3 có mặt. Ông L1, bà L2, bà B, bà H1, ông H2 có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn chị Phạm Hằng M trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Năm 2012 chị M và anh Q tự nguyện chung sống với nhau và tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau vào ngày 26 tháng 9 năm 2013.
Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh Q không lo lắng cho gia đình, khi say rượu anh Q đánh đập chị M. Ngoài ra anh Q còn mê cờ bạc, chị M có khuyên nhiều lần nhưng anh Q không sửa đổi tính tình. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 5 năm 2021 cho đến nay.
Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy chị M yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Thanh Q.
- Về nuôi con chung: Có 03 người con chung tên Nguyễn Thái T1, sinh ngày 10/06/2013 (nam); Nguyễn Thiên K, sinh ngày 07/01/2015 (nữ) và Nguyễn Thảo L4, sinh ngày 10/4/2019 (nữ).
Khi ly hôn chị M có nguyện vọng nuôi dưỡng cháu Thái T1 và Thiên K, giao cháu Thảo L4 cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung gồm có: Dàn giữ xe giá 5.000.000 đồng anh Q quản lý; 02 đầu von ga 6HP giá 8.000.000 đồng anh Q quản lý; Đồ nghề làm thợ giá 4.000.000 đồng anh Q quản lý; 01 điện thoại Oppo giá 7.000.000 đồng anh Q quản lý. Tổng giá trị tài sản chung của vợ chồng là 24.000.000 đồng, chị M yêu cầu nhận ½ giá trị, giao hiện vật cho anh Q quản lý.
- Về nợ trả: Nợ ông Phạm Văn V (cha ruột chị M) số tiền vay không lãi (mượn) 100.000.000 đồng vào năm 2020 khi vợ chồng cất nhà; Nợ bà Phan Hồng L3 (dì ruột chị M) số tiền vay không lãi (mượn) 80.000.000 đồng vào năm 2021; Nợ bà Phan Thị B (dì ruột chị M) số tiền vay không lãi (mượn) 10.000.000 đồng, vay năm 2020, mục đích vay tiền là để xây nhà ở và anh Q biết việc vay tiền này; Nợ tiền hụi của bà Phan Thị H (dì ruột chị M) 02 chưng hụi chết số tiền 46.000.000 đồng, loại hụi 1.000.000 đồng, 67 chưng, khui khoảng năm 2019; Nợ ông Phạm Văn L1 (anh ruột chị M) số tiền 5.000.000 đồng (10 thùng tôm giống, mua tôm giống từ tháng 6 đến tháng 8 năm 2009); Nợ ông Nguyễn Văn H2 tiền vật tư xây nhà vào năm 2020 số tiền 4.875.000 đồng. Chị M yêu cầu chia đôi trách nhiệm thanh toán các khoản nợ nêu trên với anh Q.
- Về nợ thu: Yêu cầu mẹ chồng là bà Trần Thị L2 trả cho vợ chồng chị M 04 chỉ vàng 24K đã mượn vào năm 2012 và trả số tiền mượn 20.000.000 đồng vào năm 2014.
* Bị đơn anh Nguyễn Thanh Q trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Q thống nhất với phần trình bày của chị M về thời điểm kết hôn, tình trạng hôn nhân, mâu thuẫn vợ chồng. Vào năm 2012 anh Q và chị M tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Quá trình chung sống đến năm 2021 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2021 cho đến nay.
Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, trước yêu cầu ly hôn của chị M thì anh Q đồng ý ly hôn vì hôn nhân tiếp tục duy trì không còn hạnh phúc.
- Về con chung: Thống nhất với lời trình bày của chị M về con chung. Khi ly hôn anh Q đồng ý giao cháu Thái T1 và Thiên K cho chị M nuôi dưỡng, anh Q yêu cầu nuôi cháu Thảo L4.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Q không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về chia tài sản chung: Anh Q yêu cầu phản tố chia đôi tài sản chung với chị M gồm: 01 căn nhà cấp 4 cất trên đất của ông V tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau, diện tích nhà chính ngang 5m, dài 20m, công trình phụ ngang 9,2m, dài 8m, xây năm 2020, giá trị lúc xây khoảng 500 triệu đồng. Giá trị căn nhà tính thời điểm năm 2022 là 400.000.000 đồng; 01 tủ lạnh giá trị 1.500.000 đồng; 01 ti vi giá trị 6.300.000 đồng; 01 tủ đông giá trị 6.000.000 đồng; 02 bàn bi da giá trị 23.000.000 đồng; 01 chiếc xe máy hiệu ViSion giá trị 27.000.000 đồng, do chị M đứng tên; 01 chiếc xe máy hiệu Jupite, xe do ông V đứng tên, đã cho vợ chồng anh Q, chị M sử dụng, giá trị là 10.000.000 đồng; 01 tủ nhôm quần áo giá trị 1.000.000 đồng; 01 loa kéo giá trị 2.000.000 đồng; 01 bồn nước giá trị 1.000.000 đồng; 01 cây nước khoan giá trị 8.500.000 đồng; Đầu tư đường điện 5.500.000 đồng; 01 máy VanGa 6HP 4.000.000 đồng. Giá trị tài sản chung anh Q yêu cầu chia đôi với chị M là 495.800.000 đồng.
Anh Q đồng ý yêu cầu của chị M về việc chia đôi giá trị dàn giữ xe giá 5.000.000 đồng, 02 đầu von ga 6HP giá 8.000.000 đồng, đồ nghề làm thợ giá 4.000.000 đồng, 01 điện thoại Oppo giá 7.000.000 đồng.
Anh Q xác định tổng cộng tài sản chung của vợ chồng giá trị là 519.800.000 đồng. Yêu cầu chia đôi tài sản chung, giao các tài sản cho chị M trực tiếp quản lý, sử dụng, chị M có trách nhiệm giao ½ giá trị tài sản cho anh Q.
- Về nợ trả, anh Q đồng ý chia đôi trách nhiệm thanh toán cùng chị M đối với các khoản nợ sau: Nợ hụi của bà Phan Thị H 02 chưng hụi chết số tiền 46.000.000 đồng; Nợ anh ruột chị M tên Phạm Văn L1 10 thùng tôm giống = 5.000.000 đồng; Nợ tiền vật tư xây nhà của ông H2 – Chủ cửa hàng V1 số tiền 4.875.000 đồng. Đối với các khoản nợ còn lại bao gồm nợ ông Phạm Văn V số tiền 100.000.000 đồng, nợ bà Phan Hồng L3 số tiền 80.000.000 đồng, nợ bà Phan Thị B số tiền 10.000.000 đồng thì anh Q không biết, không đồng ý trả. Tuy nhiên, nếu chị M có chứng cứ thể hiện đây là khoản nợ chung của vợ chồng thì anh Q đồng ý trả.
Ngoài ra, vợ chồng còn nợ Công ty T2 số tiền vay 30.000.000 đồng tiêu dùng trong gia đình, đối với khoản nợ này anh Q tự thanh toán cho Công ty, không yêu cầu chị M liên đới, anh Q đề nghị không đưa Công ty T2 tham gia tố tụng.
- Nợ thu: Khoản nợ thu của mẹ ruột anh Q là bà Trần Thị L2 đối với 04 chỉ vàng 24K và số tiền mượn là 20.000.000 đồng, nợ thu này anh Q không biết.
- Về yêu cầu độc lập đối với ông Phạm Văn V: Trong quá trình anh Q, chị M chung sống với nhau thì vào ngày 20 tháng 6 năm 2020 âm lịch vợ chồng anh Q có thuê mướn vuông của ông V, phần đất tọa lạc tại ấp C, xã H, huyện N, diện tích khoảng 40 công tầm lớn, thời hạn thuê hàng năm, hình thức thanh toán hàng năm với giá thuê là 60.000.000 đồng/năm, vợ chồng anh Q đã giao đủ tiền cho ông V, tuy nhiên chưa hết hạn hợp đồng ông V đã lấy lại vuông và cho người khác mướn. Do đó, anh Q yêu cầu ông V thanh toán cho vợ chồng anh Q tiền san lấp mặt bằng, cải tạo nâng cao giá trị đất mà anh Q đã đầu tư, san lấp mặt bằng để làm thổ cư với diện tích 1.500m², khối lượng san lấp là 4000m³ với số tiền là 400.000.000 đồng, yêu cầu ông V bồi thường hợp đồng do vi phạm hợp đồng thuê quyền sử dụng đất số tiền 60.000.000 đồng, yêu cầu trả tiền cất chồi vuông 20.000.000 đồng, trả tiền đổ cống 30.000.000 đồng, trả tiền thả tôm, cua giống 30.000.000 đồng. Tộng cộng số tiền yêu cầu ông V trả là 540.000.000 đồng.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị L2 trình bày: Bà không có mượn chị M 20.000.000 đồng và 04 chỉ vàng 24K nên không đồng ý thanh toán theo yêu cầu chị M.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập ông Phạm Văn V và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông V thống nhất trình bày:
Ông V yêu cầu vợ chồng chị M, anh Q trả số tiền vay không lãi (mượn) là 100.000.000 đồng, mục đích vay là để chị M, anh Q xây nhà, trả tiền vật tư. Tuy không có biên nhận nhưng có thợ xây dựng nhà cho chị M, anh Q chứng kiến. Chị M là người nhận tiền, cũng có lần anh Q nhận tiền để trả tiền vật tư và tiền công thợ hồ.
Đối với yêu cầu độc lập của anh Q buộc ông trả cho vợ chồng anh Q tổng số tiền 540.000.000 đồng thì ông V không đồng ý. Do đất ông V cho chị M, anh Q mượn để cất nhà ở và anh Q san lấp mặt bằng là để làm sân đá bóng, đá gà nên yêu cầu đòi công sức đóng góp cải tạo đất là không hợp lý. Đối với phần đất vuông ông V cho vợ chồng chị M, anh Q mượn làm vào năm 2020, không có cho thuê nên anh Q yêu cầu bồi thường hợp đồng và trả tiền tôm, cua giống là không có cơ sở.
Đối với chiếc xe máy hiệu Jupite, xe do ông V đứng tên, quá trình chị M, anh Q chung sống thì ông đã giao chiếc xe này cho vợ chồng chị M, anh Q sử dụng nay ông V thống nhất đây là tài sản chung của vợ chồng chị M, anh Q, ông không yêu cầu gì đối với chiếc xe này.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị B có yêu cầu độc lập trình bày: Yêu cầu vợ chồng chị M, anh Q trả số tiền vay không lãi (mượn) là 10.000.000, vay năm 2020, mục đích vay để xây nhà, chị M là người trực tiếp hỏi vay và nhận tiền, việc vay tiền không có giấy tờ, biên nhận do con cháu trong nhà. Yêu cầu anh Q và chị M có trách nhiệm trả số tiền này cho bà.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị H có yêu cầu độc lập trình bày: Vào ngày 15 tháng 7 năm 2019 âm lịch bà có mở dây hụi 1.000.000 đồng, gồm 67 chưng, chị M, anh Q tham gia 02 chưng, danh sách hụi ghi tên M. Hụi một tháng khui 02 lần vào ngày 15, 30 âm lịch hàng tháng. Chị M, anh Q hốt 02 chưng, hụi đến ngày 30/3/2022 âm lịch sẽ mãn, tính đến mãn hụi vợ chồng chị M, anh Q còn nợ 23 kỳ hụi chết chưa đóng x 02 chưng = 46.000.000 đồng. Yêu cầu chị M, anh Q trả số tiền hụi chết còn nợ là 46.000.000 đồng.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Hồng L3 trình bày: Vợ chồng chị M có vay không lãi (mượn) bà L3 số tiền 80.000.000 đồng, việc vay nợ có biên nhận, mục đích vay để xây nhà, chị M trực tiếp hỏi vay và nhận tiền. Biên nhận do chị M ký tên. Bà xác định trong vụ án này bà không yêu cầu vợ chồng chị M, anh Q thanh toán nợ. Bà sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn L1 trình bày: Ông có bán cho vợ chồng chị M, anh Q 10 thùng tôm giống số tiền là 5.000.000 đồng. Đối với khoản nợ này ông L1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H2 trình bày: Vợ chồng chị M, anh Q có mua vật liệu xây dựng và còn nợ ông H2 số tiền 4.875.000 đồng. Đối với khoản nợ này ông H2 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa,
- Nguyên đơn chị Phạm Hằng M trình bày: Giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh Q, yêu cầu nuôi hết 03 người chung, yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con đối với cháu Thái T1 và Thiên Kim theo quy định pháp luật. Không yêu cầu cấp dưỡng đối với cháu Thảo L4. Rút lại yêu cầu chia tài sản chung với anh Q đối với 02 đầu von ga 6HP; Đồ nghề làm thợ; 01 điện thoại Oppo; Dàn giữ xe; Thống nhất giá trị tài sản chung của vợ chồng đối với căn nhà cấp 4 hiện nay là 300.000.000 đồng, chị M đồng ý chia đôi tài sản chung này với anh Q, chị M nhận nhà, chị M đồng ý giao ½ giá trị căn nhà cho anh Quân số tiền 150.000.000 đồng. Về nợ trả: Chị M rút lại yêu cầu chia đôi nợ trả với anh Q đối với các khoản nợ của ông Phạm Văn V, bà Phan Hồng L3, bà Phan Thị B, bà Phan Thị H, ông Phạm Văn L1, ông Phạm Văn H3; Về nợ thu: Chị M rút lại yêu cầu buộc bà L2 trả 04 chỉ vàng 24K và số tiền mượn là 20.000.000 đồng. Về chi phí tố tụng: Chị M yêu cầu chia đôi với anh Q.
- Bị đơn anh Nguyễn Thanh Q trình bày: Đồng ý ly hôn với chị M, con chung đồng ý giao hết 03 người con chung cho chị M nuôi dưỡng. Anh Q đồng ý cấp dưỡng nuôi con đối với 02 cháu Thái T1 và Thiên K số tiền 1.000.000 đồng/tháng/cháu x 02 cháu là 2.000.000 đồng. Không đặt ra vấn đề cấp dưỡng đối với cháu Thảo L4. Anh Q rút lại một phần yêu cầu phản tố về việc chia tài sản chung với chị M đối với tài sản sau: 01 tủ lạnh, 01 ti vi, 01 tủ đông, 02 bàn bi da, 01 tủ nhôm quần áo, 01 loa kéo, 01 bồn nước, 01 cây nước khoan, đầu tư đường điện, 01 máy VanGa 6HP, 01 chiếc xe máy hiệu ViSion và 01 chiếc xe máy hiệu Jupite. Chỉ yêu cầu chia tài sản chung đối với căn nhà cấp 4, thống nhất giá trị căn nhà cấp 4 hiện nay là 300.000.000 đồng, anh Q đồng ý giao nhà cho chị M tiếp tục quản lý, sử dụng, anh Q yêu cầu chị M giao ½ giá trị căn nhà cho anh Quân số tiền là 150.000.000 đồng. Anh Q rút lại yêu cầu độc lập đối với ông Phạm Văn V về trả tiền đầu tư trên đất và bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thuê quyền sử dụng đất số tiền là 540.000.000 đồng. Về chi phí tố tụng: Đồng ý chia đôi chi phí tố tụng với chị M.
- Người đại diện theo ủy quyền cho anh Q (ủy quyền về tài sản, công nợ), ông L trình bày: Về tài sản chung và công nợ: Thống nhất ý kiến của anh Q như trên và không bổ sung gì thêm.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập ông Phạm Văn V và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông V thống nhất trình bày: Ông V rút lại yêu cầu độc lập đối với chị M, anh Q về việc thanh toán tiền vay 100.000.000 đồng.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phan Hồng L3 trình bày: Đối với khoản nợ của chị M, anh Q bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Hằng M với anh Nguyễn Thanh Q. Ghi nhận sự thỏa thuận của chị M và anh Q về việc giao cháu Nguyễn Thái T1, sinh ngày 10/06/2013 (nam) và cháu Nguyễn Thiên K, sinh ngày 07/01/2015 (nữ) và Nguyễn Thảo L4, sinh ngày 10/4/2019 (nữ) cho chị Phạm Hằng M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Ghi nhận sự thỏa thuận của chị M và anh Q về việc anh Q đồng ý cấp dưỡng nuôi con đối với 02 cháu Thái T1 và Thiên K số tiền 1.000.000 đồng/tháng/cháu x 02 cháu là 2.000.000 đồng. Ghi nhận sự thỏa thuận của anh Nguyễn Thanh Q và chị Phạm Hằng M về chia tài sản chung đối với căn nhà cấp 4, diện tích nhà chính ngang 5m x dài 20m, công trình phụ ngang 9,2m, dài 8m tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện N. Giá trị căn nhà hiện nay 300.000.000 đồng. Giao căn nhà nêu trên cho chị Phạm Hằng M quản lý, sở hữu. Buộc chị M có nghĩa vụ giao trả cho anh Nguyễn Thanh Q ½ giá trị căn nhà là 150.000.000 đồng.
Đình chỉ một phần yêu cầu phản tố của anh Nguyễn Thanh Q về việc chia các tài sản chung là: 01 tủ lạnh giá trị hiện tại 1.500.000 đồng; 01 ti vi giá trị 6.300.000 đồng; 01 tủ đông giá trị 6.000.000 đồng; 02 bàn bi da giá trị 23.000.000 đồng; 01 chiếc xe máy hiệu ViSion giá 27.000.000 đồng; 01 chiếc xe máy hiệu Jupite giá 10.000.000 đồng; 01 tủ nhôm quần áo giá 1.000.000 đồng; 01 loa kéo giá 2.000.000 đồng; 01 bồn nước giá 1.000.000 đồng; 01 cây nước khoan giá 8.500.000 đồng; Đầu tư đường điện 5.500.000 đồng; 01 máy VanGa 6HP giá 4.000.000 đồng;
Đình chỉ yêu cầu chia tài sản của chị M gồm các tài sản: Dàn giữ xe giá 5.000.000 đồng; 02 đầu von ga 6HP giá 8.000.000 đồng; Đồ nghề làm thợ giá 4.000.000 đồng và 01 điện thoại Oppo giá 7.000.000 đồng.
Đình chỉ yêu cầu của anh Nguyễn Thanh Q về việc yêu cầu ông Phạm Văn V trả cho vợ chồng anh tiền đã đầu tư trên đất, tiền công sức đóng góp cải tạo nâng cao giá trị đất và bồi thường hợp đồng số tiền là 540.000.000 đồng
Đình chỉ yêu cầu nợ thu và yêu cầu chia đôi các khoản nợ trả của chị Phạm Hằng M.
Đình chỉ cầu độc lập của ông Phạm Văn V số tiền 100.000.000 đồng, bà Phan Thị B số tiền 10.000.000 đồng, bà Phan Phước H4 số tiền hụi 46.000.000 đồng.
Chi phí tố tụng và án phí ly hôn, án phí chia tài sản, cấp dưỡng: các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền: Chị Phạm Hằng M yêu cầu ly hôn, nuôi con với anh Nguyễn Thanh Q. Anh Nguyễn Thanh Q có yêu cầu phản tố, yêu cầu chia tài sản chung đối với chị M và có yêu cầu độc lập đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn V, yêu cầu ông V trả tiền đầu tư trên đất và bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thuê quyền sử dụng đất. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập, yêu cầu chị M, anh Q thanh toán tiền vay, tiền hụi còn nợ. Quá trình thụ lý Tòa án xác định quan hệ pháp luật là Tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản chung và công nợ nay Hội đồng xét xử xác định lại quan hệ pháp luật là “Tranh chấp ly hôn và chia tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và Tòa án nhân dân huyện Năm Căn thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 28, Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về phạm vi khởi kiện:
Nguyên đơn chị Phạm Hằng M bổ sung yêu cầu khởi kiện, yêu cầu chia tài sản chung với anh Nguyễn Thanh Q đối với dàn giữ xe; 02 đầu von ga 6HP; Đồ nghề làm thợ; 01 điện thoại Oppo. Đồng thời yêu cầu chia đôi nợ chung với anh Q, tại phiên tòa chị M yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, các yêu cầu này của chị M không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu và phải giải quyết trong cùng vụ án mới triệt để nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét, giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với khoản nợ của Công ty T2 anh Q đã thanh toán xong nên Hội đồng xét xử không đưa Công ty T2 tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đúng quy định.
[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Nguyễn Văn H2, ông Phạm Văn L1, bà Phan Thị H, bà Phan Thị B, bà Trần Thị L2 có đơn xin vắng mặt. Do đó căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
[2]. Về nội dung vụ án
[2.1] Xét yêu cầu xin ly hôn của chị M
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Hằng M và anh Nguyễn Thanh Q kết hôn vào năm 2012. Hôn nhân có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau vào ngày 26 tháng 9 năm 2013 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 39, quyển số 01 nên hôn nhân giữa chị M và anh Q là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận. Chị M yêu cầu ly hôn với anh Q do bất đồng quan điểm trong cuộc sống và do anh Q không lo lắng cho gia đình, khi say rượu anh Q đánh đập chị M. Anh Q đồng ý ly hôn với chị M vì hôn nhân duy trì không hạnh phúc.
Xét thấy, hôn nhân của chị M và anh Q đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và tại phiên hòa giải ngày 29/5/2024 chị M và anh Q thống nhất ly hôn nên Hội đồng xét xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Hằng M và anh Nguyễn Thanh Q theo quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về nuôi con chung: Hai đương sự xác định có 03 người con chung tên:
- + Cháu Nguyễn Thái T1, sinh ngày 10/06/2013 (nam);
- + Cháu Nguyễn Thiên K, sinh ngày 07/01/2015 (nữ);
- + Cháu Nguyễn Thảo L4, sinh ngày 10/4/2019 (nữ);
Tại phiên tòa chị M, anh Q thỏa thuận giao cháu Thái T1, Thiên K và Thảo L4 cho chị M trực tiếp, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi vợ chồng chị M, anh Q sống ly thân con chung do chị M nuôi dưỡng. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án làm việc trực tiếp với các cháu Thái T1 và Thiên K, các cháu đều có nguyện vọng sống chung với mẹ trường hợp cha mẹ cháu ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử tôn trọng nguyện vọng của các cháu, giao con chung tên Nguyễn Thái T1, Nguyễn Thiên K, Nguyễn Thảo L4 cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi chấm dứt việc nuôi con theo quy định pháp luật là phù hợp với Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Hai đương sự thỏa thuận, anh Q cấp dưỡng nuôi cháu Thái T1 và Thiên K số tiền 1.000.000 đồng/tháng/cháu x 02 cháu là 2.000.000 đồng, cấp dưỡng hàng tháng. Xét thấy, việc thỏa thuận của hai đương sự phù hợp với quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên được ghi nhận.
Buộc anh Q cấp dưỡng nuôi con đối với cháu Thái T1 và Thiên K số tiền 1.000.000 đồng/tháng/cháu x 02 cháu là 2.000.000 đồng, cấp dưỡng hàng tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm đến khi chấm dứt việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
Anh Q chậm cấp dưỡng phải chịu lãi suất theo quy định tại các Điều 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Đối với cháu Thảo L4 các đương sự tự thỏa thuận vấn đề cấp dưỡng, không yêu cầu Tòa án xem xét nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[2.2] Xét yêu cầu phản tố của anh Q và yêu cầu khởi kiện bổ sung của chị M về chia tài sản chung:
Quá trình giải quyết vụ án chị M, anh Q thống nhất vợ chồng có các tài sản chung như chị M và anh Q trình bày trên. Chị M và anh Q tự thỏa thuận giá trị tài sản chung và thống nhất giá trị tài sản chung theo biên bản thỏa thuận ngày 11/5/2022 là 519.800.000 đồng. Chị M, anh Q thống nhất giá trị căn nhà cấp 4 hiện nay là 300.000.000 đồng, không yêu cầu thẩm định giá trị tài sản chung là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 104 Bộ luật Tố tụng dân sự: “Đương sự có quyền cung cấp giá tài sản đang tranh chấp; thỏa thuận về giá tài sản đang tranh chấp”.
Chị M rút lại yêu cầu chia tài sản chung với anh Q đối với tài sản là 02 đầu von ga 6HP, đồ nghề làm thợ, 01 điện thoại Oppo, dàn giữ xe. Xét thấy, việc rút đơn của chị M là tự nguyện nên Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu chia tài sản chung của chị M với anh Q đối với các tài sản này theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Anh Q rút lại một phần yêu cầu phản tố về việc chia tài sản chung với chị M đối với các tài sản sau: 01 tủ lạnh, 01 ti vi, 01 tủ đông, 02 bàn bi da, 01 tủ nhôm quần áo, 01 loa kéo, 01 bồn nước, 01 cây nước khoan, đầu tư đường điện, 01 máy VanGa 6HP, 01 chiếc xe máy hiệu ViSion và 01 chiếc xe máy hiệu Jupite. Xét thấy, việc rút đơn của anh Q là tự nguyện nên Hội đồng xét xử đình chỉ một phần yêu cầu phản tố của anh Q về việc chia tài sản chung với chị M đối với các tài sản nêu trên theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với yêu cầu phản tố của anh Q về việc chia tài sản chung với chị M đối với căn nhà cấp 4 của vợ chồng tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Chị M, anh Q thống nhất kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 19/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện Năm Căn đối với căn nhà cấp 4 (nhà chính) cùng công trình phụ gắn liền với nhà chính có đặc điểm như sau: Nhà chính ngang 5m, dài 20m, diện tích 100m² mái lợp tol, khung cột bê tông, nền lót gạch men, cửa nhà bằng cửa kéo sắt, tường có dán gạch độ cao 1,2m; công trình phụ ngang 9,2m, dài 8m diện tích 73,6m² gắn liền với nhà chính nền đỗ bê tông, tráng xi măng, vách tol, mái lợp tol, cất trên phần đất của ông V tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau.
Tại biên bản hòa giải ngày 29/5/2024 và tại phiên tòa chị M, anh Q đồng ý chia đôi tài sản chung này. Chị M, anh Q thỏa thuận chị M tiếp tục quản lý, sử dụng căn nhà, chị M đồng ý giao ½ giá trị căn nhà cho anh Quân số tiền là 150.000.000 đồng. Chị M, anh Q yêu cầu Tòa án ghi nhận sự thỏa thuận này trong Bản án. Xét thấy, thỏa thuận của chị M và anh Q là phù hợp, không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận này của các đương sự theo quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình. Giao căn nhà cấp 4 (nhà chính) ngang 5m, dài 20m, diện tích 100m² cùng công trình phụ ngang 9,2m, dài 8m, diện tích 73,6m² gắn liền với nhà chính, nền đỗ bê tông, tráng xi măng, vách tol, mái lợp tol cất trên phần đất của ông Phạm Văn V tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau cho chị M tiếp tục quản lý, sử dụng. Buộc chị M giao ½ giá trị tài sản chung đối với căn nhà cho anh Quân số tiền là 150.000.000 đồng.
[2.3] Xét yêu cầu độc lập của anh Q đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn V.
Quá trình giải quyết vụ án các đương sự không thống nhất với nhau về khối lượng đất mà anh Q đã đầu tư san lấp mặt bằng là 4000m³ và không thống nhất với nhau về giá trị đất mà anh Q đã đầu tư san lấp mặt bằng với số tiền là 400.000.000 đồng nên anh Q, chị M đã làm đơn yêu cầu Tòa án trưng cầu Công ty Cổ phần T3 và Công ty Trách nhiệm hữu hạn T4 để thẩm định khối lượng đất và xác định giá trị đất anh Q san lấp. Tuy nhiên, tại phiên hòa giải và tại phiên tòa anh Q rút lại yêu cầu độc lập đối với ông Phạm Văn V về việc trả tiền đầu tư trên đất và bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thuê quyền sử dụng đất tổng số tiền là 540.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử không xem xét khối lượng đất và giá trị đất mà anh Q đã đầu tư, san lắp mặt bằng. Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 2 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự đình chỉ yêu cầu độc lập của anh Q đối với ông Phạm Văn V.
[2.4] Xét nợ chung:
- Nợ trả: Chị M rút lại yêu cầu chia đôi nợ chung với anh Q đối với các khoản nợ của ông Phạm Văn V số tiền vay 100.000.000 đồng, khoản nợ của bà Phan Hồng L3 số tiền vay 80.000.000 đồng, khoản nợ của bà Phan Thị B số tiền vay 10.000.000 đồng, khoản nợ tiền hụi chết của bà Phan Thị H số tiền 46.000.000 đồng, khoản nợ của ông Phạm Văn L1 số tiền tôm giống là 5.000.000 đồng, khoản nợ của ông Nguyễn Văn H2 tiền vật tư xây nhà số tiền 4.875.000 đồng nên Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu chia đôi nợ trả của chị M đối với các khoản nợ trên theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Nợ thu: Chị M rút lại yêu cầu buộc bà L2 trả 04 chỉ vàng 24k và số tiền mượn là 20.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu này của chị M theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2.5] Xét yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn V.
Ông V rút lại yêu cầu độc lập đối với chị M, anh Q về việc thanh toán tiền vay còn nợ là 100.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu độc lập của ông V theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2.6] Xét yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị H.
Do chị M đã trả xong nợ hụi nên bà H rút lại yêu cầu độc lập đối với chị M, anh Q về việc thanh toán tiền hụi chết còn nợ là 46.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu độc lập của bà H theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2.7] Xét yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị B.
Do chị M đã trả xong nợ vay nên bà B rút lại yêu cầu độc lập đối với chị M, anh Q về việc thanh toán tiền vay còn nợ là 10.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu độc lập của bà B theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Đối với khoản nợ tiền tôm giống của ông L1 và nợ tiền vật tư xây dựng của ông H2 hiện chị M đã thanh toán xong và ông L1, ông H2 không đặt ra yêu cầu gì đối với chị M, anh Q nên Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp với quy định tại Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự: “Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó”.
[4] Đối với khoản nợ của bà Phan Hồng L3: Quá trình giải quyết vụ án bà L3 đã được Tòa án thông báo về việc chị M yêu cầu chia đôi nợ chung với anh Q đối với khoản nợ của bà L3. Tuy nhiên, bà L3 không đặt ra yêu cầu độc lập đối với chị M, anh Q nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp có tranh chấp thì các đương sự có quyền khởi kiện bằng vụ án khác.
[5] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 600.000 đồng và chi phí định giá tài sản 8.264.000 đồng, tổng chi phí là 8.864.000 đồng. Chị M và anh Q đồng ý mỗi người chịu ½ chi phí tố tụng là 4.432.000 đồng. Chị M đã nộp 6.864.000 đồng, anh Q đã nộp 2.000.000 đồng nên anh Q có trách nhiệm trả lại cho chị M số tiền chi phí tố tụng là 2.432.000 đồng.
[6] Về án phí:
- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không giá ngạch các đương sự chịu 50%, chị Phạm Hằng M và anh Nguyễn Thanh Q mỗi người phải chịu 75.000 đồng.
- Án phí chia tài sản có giá ngạch chị M và anh Q chịu 50% đối với tài sản được nhận. Chị M, anh Q mỗi người chịu án phí là 3.750.000 đồng.
Tổng án phí chị M phải chịu là 3.825.000 đồng. Chị Phạm Hằng M đã nộp tạm ứng án phí tổng số tiền 1.104.000 đồng được xem xét đối trừ. Sau khi đối trừ, chị M phải nộp tiếp số tiền là 2.721.000 đồng.
- Án phí cấp dưỡng nuôi con định kỳ không giá ngạch số tiền 300.000 đồng anh Q phải chịu.
Tổng án phí anh Q phải chịu là 4.125.000 đồng. Anh Nguyễn Thanh Q đã nộp tạm ứng án phí số tiền 13.874.000 đồng được xem xét đối trừ. Sau khi đối trừ, anh Q được nhận lại số tiền là 9.749.000 đồng.
- Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông Phạm Văn V, bà Phan Thị B, bà Phan Thị H là người cao tuổi có đơn xin miễn nộp tạm ứng án phí nên không xem xét.
[7] Đối với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn về quan điểm giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[8] Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Phạm Văn V là có cơ sở được chấp nhận.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 147, Điều 157, Điều 165, điểm c khoản 1 Điều 217, điểm c khoản 2 Điều 217, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55, Điều 59, Điều 81, 82, Điều 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 và điểm a, điểm đ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
* Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Hằng M về việc xin ly hôn với anh Nguyễn Thanh Q.
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Hằng M và anh Nguyễn Thanh Q.
- Về nuôi con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của chị M và anh Q. Giao con chung tên Nguyễn Thái T1, sinh ngày 10/06/2013 (nam), Nguyễn Thiên K, sinh ngày 07/01/2015 (nữ), Nguyễn Thảo L4, sinh ngày 10/4/2019 (nữ) cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi chấm dứt việc nuôi con theo quy định pháp luật.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự thỏa thuận của chị M và anh Q. Buộc anh Q cấp dưỡng nuôi con đối với cháu Thái T1 và cháu Thiên K số tiền 1.000.000 đồng/tháng/cháu x 02 cháu là 2.000.000 đồng, cấp dưỡng hàng tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm đến khi chấm dứt việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
- Về tài sản chung:
+ Công nhận sự thỏa thuận của chị Phạm Hằng M và anh Nguyễn Thanh Q về việc chia tài sản chung tại biên bản hòa giải lập ngày 29/5/2024, cụ thể: Giao căn nhà cấp 4 (nhà chính) ngang 5m, dài 20m, diện tích 100m², mái lợp tol, khung cột bê tông, nền lót gạch men, cửa nhà bằng cửa kéo sắt, tường có dán gạch độ cao 1,2m cùng công trình phụ ngang 9,2m, dài 8m, diện tích 73,6m² gắn liền với nhà chính nền đỗ bê tông, tráng xi măng, vách tol, mái lợp tol cất trên phần đất của ông Phạm Văn V tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau cho chị Phạm Hằng M tiếp tục quản lý, sử dụng, giá trị căn nhà hiện nay 300.000.000 đồng.
Vị trí tứ cận của căn nhà:
Mặt tiền giáp lộ Cây D1;
Vách phải nhìn từ mặt tiền giáp phần đất còn lại của ông Phạm Văn V;
Vách trái nhìn từ mặt tiền giáp phần đất còn lại của ông Phạm Văn V;
Hậu giáp đất của ông Phạm Văn V.
Buộc chị Phạm Hằng M có trách nhiệm giao ½ giá trị căn nhà cho anh Quân số tiền là 150.000.000 đồng.
+ Đình chỉ yêu cầu chia tài sản chung của chị M với anh Q đối với tài sản là 02 đầu von ga 6HP, đồ nghề làm thợ, 01 điện thoại Oppo, dàn giữ xe.
+ Đình chỉ một phần yêu cầu phản tố của anh Q về việc chia tài sản chung với chị M đối với các tài sản sau: 01 tủ lạnh, 01 ti vi, 01 tủ đông, 02 bàn bi da, 01 tủ nhôm quần áo, 01 loa kéo, 01 bồn nước, 01 cây nước khoan, đầu tư đường điện, 01 máy VanGa 6HP, 01 chiếc xe máy hiệu ViSion và 01 chiếc xe máy hiệu Jupite.
- Về nợ chung:
+ Nợ trả: Đình chỉ yêu cầu chia đôi nợ trả của chị M đối với các khoản nợ của ông Phạm Văn V số tiền vay 100.000.000 đồng, khoản nợ của bà Phan Hồng L3 số tiền vay 80.000.000 đồng, khoản nợ của bà Phan Thị B số tiền vay 10.000.000 đồng, khoản nợ của tiền hụi của bà Phan Thị H số tiền 46.000.000 đồng, khoản nợ của ông Phạm Văn L1 số tiền 10 thùng tôm giống là 5.000.000 đồng, khoản nợ của ông Nguyễn Văn H2 tiền vật tư số tiền 4.875.000 đồng.
+ Về nợ thu: Đình chỉ yêu cầu của chị M về việc yêu cầu bà L2 thanh toán 04 chỉ vàng 24K và số tiền mượn là 20.000.000 đồng.
+ Đình chỉ yêu cầu độc lập của anh Q đối với ông Phạm Văn V về việc trả tiền đầu tư trên đất và bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thuê quyền sử dụng đất số tiền là 540.000.000 đồng.
+ Đình chỉ yêu cầu độc lập của ông Phạm Văn V đối với chị M, anh Q về việc thanh toán tiền vay còn nợ là 100.000.000 đồng.
+ Đình chỉ yêu cầu độc lập của bà Phan Thị B đối với chị M, anh Q về việc thanh toán tiền vay còn nợ là 10.000.000 đồng.
+ Đình chỉ yêu cầu độc lập của bà Phan Thị H đối với chị M, anh Q về việc thanh toán tiền hụi còn nợ là 46.000.000 đồng.
- Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 600.000 đồng và chi phí định giá tài sản 8.264.000 đồng, tổng chi phí là 8.864.000 đồng. Chị M và anh Q đồng ý mỗi người chịu ½ chi phí tố tụng là 4.432.000 đồng. Chị M đã nộp 6.864.000 đồng, anh Q đã nộp 2.000.000 đồng nên anh Q có trách nhiệm trả lại cho chị M số tiền chi phí tố tụng là 2.432.000 đồng.
Kể từ ngày những người được thi hành án có đơn yêu cầu, trường hợp những người phải thi hành án đối với khoản tiền thuộc về nghĩa vụ thanh toán của mình mà chậm thanh toán thì phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chậm thanh toán tại thời điểm thi hành án.
- Về án phí:
+ Chị M phải chịu 75.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không giá ngạch và chịu 3.750.000 đồng đối với án phí chia tài sản có giá ngạch. Tổng án phí chị M phải chịu là 3.825.000 đồng. Chị Phạm Hằng M đã nộp tạm ứng án phí tổng số tiền 1.104.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0007704 ngày 02 tháng 6 năm 2021 và Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0007737 ngày 30 tháng 6 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Năm Căn được xem xét đối trừ. Sau khi đối trừ, chị M phải nộp tiếp số tiền án phí là 2.721.000 đồng.
+ Anh Q phải chịu 75.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không giá ngạch và chịu 3.750.000 đồng đối với án phí chia tài sản có giá ngạch, chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con định kỳ không giá ngạch. Tổng án phí anh Q phải chịu là 4.125.000 đồng. Anh Nguyễn Thanh Q đã nộp tạm ứng án phí số tiền 13.874.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0007730 ngày 25 tháng 6 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Năm Căn được xem xét đối trừ. Sau khi đối trừ, anh Q được nhận lại số tiền là 9.749.000 đồng.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Hồng Ngân |
Bản án số 55/2024/HNGĐ-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn và chia tài sản
- Số bản án: 55/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và chia tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn, chia tài sản chung, công nợ
