Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH A

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2024/HS-ST

Ngày: 23 – 8 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Á

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Cao Văn Chuộng

Bà Lê Thanh Xuân

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như – Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu giang tham gia phiên tòa: Ông Cao Hoàng Nhật Q - Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở nhà văn hóa Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 61/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Lưu Nguyễn Phước T - sinh năm 1989; tên gọi khác: Không; nơi sinh: Tại X, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. Hộ khẩu thường trú: Khu vực 2, phường L, thành phố N, tỉnh Hậu Giang; Chỗ ở hiện nay: Ấp Đ, xã T, thành phố N, tỉnh Hậu Giang; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Cha: Lưu Minh Q1, sinh năm 1960 và mẹ bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1955 Bị cáo: Có vợ Trương Ngọc G đã ly thân, có 01 người con sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị áp dung biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Huỳnh Minh T1 – sinh năm 1991

Địa chỉ: Ấp K, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Lưu Minh Q1, sinh năm 1960; địa chỉ: C ở hiện nay: Ấp An Đông An 2, xã Tân Thành, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào sáng ngày 24/3/2024, Lưu Nguyễn Phước T điều khiến xe mô tô biển số: 95F1-9857, nhãn hiệu BOSS, màu nâu, số máy SD078289, số khung EPCG00221079427 đi một mình từ nhà của bị cáo tại ấp Đ, xã T, Thành Phố N, tỉnh Hậu Giang chạy hướng thành phố C để tìm tài sản lấy trộm. Khi bị cáo T điều khiển xe đến cửa hàng vật tư xây dựng V, toạ lạc tại ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Lưu Nguyễn Phước T vào gặp quản lý của cửa hàng là anh Huỳnh Minh T1. T giả vờ hỏi mua vật tư xây dựng nhưng mục đích tìm tài sản để trộm cắp, bị cáo T đi xung quanh cửa hàng, phát hiện cốp xe mô tô biển số: 65E1-519.19, nhãn hiệu HONDA, loại AIR BLADE, màu xanh xám đen, số máy KF41E0118537, số khung RLHKF4108LZ608877 của anh Huỳnh Minh T1 chỉ khép hờ, không gài khoá, bị cáo T lén lút, quan sát không có ai, bị cáo T dùng tay mở cốp xe mô tô, thấy bên trong có 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Apple, loại Iphone 8 Plus, màu đen và một chiếc ví da nam, màu nâu, bị cáo lầy trộm các tài sản trên và cất dấu vào trong túi quần, sau đó nhanh chóng rời khỏi hiện trường. Khi bị cáo điều khiển xe chạy một đoạn cách cửa hàng V khoảng 300m thì bị cáo T dừng xe mô tô lại, mở ví da trộm được ra xem phát hiện bên trong ví có số tiền 1.600.000 đồng (Một triệu sáu trăm nghìn đồng); 01 Giấy phép lái xe và 01 Căn cước công dân đều mang tên Huỳnh Minh T1. Sau đó bị cáo T điều khiển xe mô tô chạy về hướng Cần Thơ, trên đường đi bị cáo sử dụng số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tử số tiền trộm được mua ma tuý sử dụng, số tiền còn lại bị cáo cũng tiêu xài cá nhân hết.

Đến ngày 26/3/2024, anh T1 theo định vị điện thoại bị mất trộm, tìm đến nhà bị cáo T tại ấp Đ, xã T, thành phố N, tỉnh Hậu Giang thì bị cáo T đã thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của anh T1 vào ngày 24/3/2024 và trả lại cho anh T1 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Apple, loại Iphone 8 Plus, màu đen; chiếc ví da bên trong có 01 Giấy phép lái xe và 01 Căn cước công dân. Khi nhận lại tài sản từ Tịnh trả lại anh T1 thấy hoàn cảnh của bị cáo T rất khó khăn nên anh T1 tự nguyện cho bị cáo T 800.000 đồng (T2 trăm nghìn đồng); sau đó anh T1 trình báo sự việc cho Cơ quan Công an làm rõ vụ việc.

Tại Kết luận định giá tài sản số 23/KL-ĐGTS ngày 24/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện C, tỉnh Hậu Giang kết luận: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Apple, loại Iphone 8Plus, màu đen, số IMEI 352979097052319, đã qua sử dụng, hiện còn lại 19% giá trị sử dụng, với giá 2.250.000 đồng (Hai triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).

+ Việc thu giữ, tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu:

Quá trình điều tra, ngày 05/7/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ra Quyết định xử lý vật chứng số 417/QĐ-ĐTTH, trả lại cho chủ sở hữu ông Huỳnh Minh T1: 01 (một) điện thoại di động; Nhãn hiệu Apple, loại Iphone 8Plus, màu đen; Tình trạng: đã qua sử dụng.

Hiện còn tạm giữ tại kho vật chứng: 01 (một) xe mô tô biển số: 95F1-9857 đã qua sử dụng; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy số: 0015834; Cấp ngày 03/12/2004; Tên chủ xe Lưu Minh Q1; Tình trạng: đã qua sử dụng

Bị hại ông Huỳnh Minh T1 đã nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo Lưu Nguyễn Phước T bồi thường, nên không đặt ra xem xét.

Tại Cáo trạng số 57/CT-VKS-HCTA ngày 05/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang truy tố bị cáo Lưu Nguyễn Phước T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo Lưu Nguyễn Phước T khai nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo đang nuôi con nhỏ và mẹ già không đi lại được, trong thời gian tại ngoại bị cáo không phạm tội khác, bị cáo ăn năn hối cải xin giảm nhẹ hình phạt để nuôi con và chăm sóc cha mẹ già.

Tại phiên tòa, ông Lưu Minh Q1 trình bày: Bị cáo T là con trai ông, khi ông đậu xe ở nhà và đi làm thì T lấy xe môtô BKS: 95F1-9857, nhãn hiệu Boss của ông, ông không hay biết việc T lấy xe và có yêu cầu nhận lại xe.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lưu Nguyễn Phước T về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Lưu Nguyễn Phước T từ 06 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn tù tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho ông Lưu Minh Q1 một xe môtô BKS: 95F1-9857, nhãn hiệu Boss, màu nâu, số máy: 0010834 và 01 giấy chứng nhận đăng ký mô tô cấp ngày 03/12/2004 đứng tên Lưu Minh Q1.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Về án phí hình sự: Đề nghị áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Lưu Nguyễn Phước T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa bị hại Huỳnh Minh T1 vắng mặt, không có lời trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C; Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A; Điều tra viên; kiểm sát viên đã thực hiện theo quy định pháp luật về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của các cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[2] Đối với bà bị hại Trương Thanh L, Trần Văn N vắng mặt tại phiên tòa, xét thấy lời khai của những người này đã thể hiện rõ trong hồ sơ nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến quá trình xét xử nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt họ là có căn cứ.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Lưu Nguyễn Phước T thừa nhận hành vi phạm tội. Đối chiếu lời thừa nhận của bị hại và các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án là phù hợp, chứng minh được như sau: Vào khoảng 09 giờ ngày 24/3/2024, T điều khiển xe môtô mang biển kiểm soát 95F1-9857 hướng từ thành phố N đến thành phô Cần Thơ để tìm tài sản để trộm cắp, khi đến cửa hàng vật liệu xây dựng V, tọa lạc tại ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang bị cáo đi vào cửa hàng G1 hỏi mua vật liệu, sau đó quan sát phát hiện xe mô tô đang đậu tại cửa hàng không gài cốp xe, nên bị cáo đã lén lút mở cốp xe mô tô mang biển kiểm soát 65E1-519-19 lấy trộm 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Apple, loại Iphone 8 Plus, màu đen qua định giá có giá trị là 2.250.000 đồng và một chiếc ví da nam, màu nâu bên trong có số tiền 1.600.000 đồng (Một triệu sáu trăm nghìn đồng); 01 Giấy phép lái xe và 01 Căn cước công dân đều mang tên Huỳnh Minh T1, bị cáo cất dấu tài sản vừa trộm được vào trong túi quần của bị cáo; sau đó, nhanh chóng rời khỏi hiện trường.

[4] Về tội danh: Bản thân bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, tài sản bị cáo chiếm đoạt theo kết quả định giá 3.850.000 đồng. Do đó, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự.

[7] Xét về tính chất, mức độ phạm tội và hình phạt áp dụng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu của người khác, mất trật tự an ninh tại địa phương. Bản thân bị cáo là người đã thành niên nhưng không lo chí thu làm ăn, chay lười lao động, không có việc làm, lại nghiện ma túy, không kiếm tiền bằng sức lao động của mình mà lại thực hiện hành vi trộm cắp với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt, thời gian tại ngoại bị cáo không phạm tội mới, chấp hành tốt các yêu cầu của cơ quan tố tụng, bị cáo đang nuôi con chưa thành niên và số tiền chiếm đoạt không lớn, bị cáo nơi cư trú ổn định. Bị cáo đủ điều kiện tại Nghị quyết 01/2018 và Nghị quyết 01/2022 về điều kiện để hướng án treo nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà giao cho chính quyền địa phương quản lý cũng đủ sức răn đe giáo dục bị cáo. Đồng thời, thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

[8] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo thu nhập không ổn định, không tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

[9] Về xử lý vật chứng: Một xe môtô BKS: 95F1-9857, nhãn hiệu Boss, màu nâu, số máy: 0010834 là phương tiện Lưu Nguyễn Phước T thực hiện hành vi phạm tội. Xét thấy, xe nêu trên là của ông Lưu Minh Q1, ông Q1 đậu ở nhà và việc bị cáo T lấy xe không hỏi ý kiến ông Q1 và ông Q1 không biết T lấy xe để thực hiện hành vi trộm cắp nên cần trả lại xe nêu trên cho ông Q1.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét.

[11] Từ những phân tích nêu trên xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ chấp nhận.

[12] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 65Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017; Điều 292, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Lưu Nguyễn Phước T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  1. Xử phạt: Bị cáo Lưu Nguyễn Phước T 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Lưu Nguyễn Phước T cho Ủy ban nhân dân xã T, thành phố N, tỉnh Hậu Giang quản lý và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, bị cáo Lưu Nguyễn Phước T cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc bị cáo T phải chấp hành hình phạt tù của bản án này.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho ông Lưu Minh Q1 một xe môtô BKS: 95F1-9857, nhãn hiệu Boss, màu nâu, số máy: 0010834 và 01 giấy chứng nhận đăng ký mô tô cấp ngày 03/12/2004 đứng tên Lưu Minh Q1.
  3. Trách nhiệm dân sự: Không đề cập.
  4. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
  5. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Lưu Nguyễn Phước T phải chịu án phí hình sự là 200.000đồng.
  6. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  7. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo toàn bộ bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định tại nơi cư trú. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo phần liên quan đến mình trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hậu Giang;
  • - VKSND tỉnh Hậu Giang;
  • - VKSND huyện Châu Thành A;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hậu Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành A;
  • - Công an huyện Châu Thành A;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Mỹ Á

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG về trộm cắp tài sản (criminal case)

  • Số bản án: 55/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Criminal case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TRỘM BÓP TIỀN
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger