Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2024/DS-ST

Ngày: 23 - 5 - 2024

V/v: “Tranh chấp

Hợp đồng tín dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Chánh

2. Bà Thiều Thị Phi Loan.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Đông – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 924/2023/TLST-DS ngày 02 tháng 11 năm 2023, về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2024/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 219/2024/QĐST-DS ngày 02 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

Địa chỉ: B - B N, phường H, quận C, TP ..

Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Tổng giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Trung H – Chuyên viên quản lý tín dụng – Phòng kiểm soát rủi ro.

Địa chỉ liên lạc: 228, đường C, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Bà Chu Dương Thanh T, sinh năm 1995.

Địa chỉ: B, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Ông H có đơn xin vắng mặt; bà T vắng mặt không rõ lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và phần trình bày trong quá trình tố tụng người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Trung H trình bày:

Ngày 17/3/2022, bà Chu Dương Thanh T có ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và phiếu cấp mã QR xem Biểu phí, Lãi suất, Điều khoản, Điều kiện phát hành và hướng dẫn sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng tại W – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ vào thu nhập của bà T, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), mục đích tiêu dùng cá nhân.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng từ ngày 10/4/2022 đến ngày 10/5/2023 bà T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là: 622.930.970 đồng (Sáu trăm hai mươi hai triệu, chín trăm ba mươi nghìn, chín trăm bảy mươi đồng). Bà T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 573.226.406 đồng (Năm trăm bảy mươi ba triệu, hai trăm hai mươi sáu nghìn, bốn trăm linh sáu đồng). Sau thời gian sử dụng thẻ từ ngày 11/5/2023 cho đến nay bà T đã không thanh toán cho Ngân hàng thêm bất kỳ khoản tiền nào nữa. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà T vẫn không có thiện chí trả nợ.

Do bà T vi phạm nghĩa vụ thanh toán (quy định tại Điều 13 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (quy định tại Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Lãi suất được áp dụng theo biểu phí, lãi suất được niêm yết tại W theo từng thời kỳ và theo điều 1.24 tại Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S.

Tính đến ngày 23/5/2024, bà Chu Dương Thanh T còn nợ Ngân hàng số tiền: 83.290.219 đồng (Tám mươi ba triệu, hai trăm chín mươi nghìn, hai trăm mười chín đồng) (Trong đó nợ gốc: 52.487.435 đồng; phí trễ hạn: 2.210.286 đồng; Lãi quá hạn: 28.080.033 đồng; Phí vượt hạn mức: 512.465 đồng).

Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu bà Chu Dương Thanh T có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên bà T vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.

Do đó, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, Ngân hàng TMCP S khởi kiện đề nghị Quý Tòa giải quyết những vấn đề sau đây đối với bị đơn:

  1. Buộc bà Chu Dương Thanh T phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 23/5/2024 là 83.290.219 đồng (Tám mươi ba triệu, hai trăm chín mươi nghìn, hai trăm mười chín đồng) (Trong đó nợ gốc: 52.487.435 đồng; phí trễ hạn: 2.210.286 đồng; Lãi quá hạn: 28.080.033 đồng; Phí vượt hạn mức: 512.465 đồng).
  2. Bà Chu Dương Thanh T có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 24/5/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Quá trính thụ lý và giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng và giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho bà Chu Dương Thanh T đến Tòa làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng bà Chu Dương Thanh T vắng mặt không có lý do nên không có lời khai.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng quy định.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S, buộc bà Chu Dương Thanh T phải trả cho ngân hàng số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng hai bên đã ký. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật. Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Trung H có đơn xin xét xử vắng mặt. Tòa án đã tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập, Thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Thông báo hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định của pháp luật, nhưng bà T vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ pháp luật: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện yêu cầu bà Chu Dương Thanh T trả lại số tiền đã vay theo Hợp đồng tín dụng các bên đã ký nên quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S thấy rằng: Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án không làm việc được với bị đơn bà Chu Dương Thanh T nhưng căn cứ vào Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, bản điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng) và các tài liệu, chứng cứ khác thể hiện tại hồ sơ, nhận thấy đã có đủ cơ sở xác định vào ngày 17/3/2022 Ngân hàng TMCP S đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) cho bà Chu Dương Thanh T là có thật. Quá trình sử dụng thẻ kể từ thời điểm kích hoạt thẻ đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm 23/5/2024, bà T chưa thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền: 83.290.219 đồng (Tám mươi ba triệu, hai trăm chín mươi nghìn, hai trăm mười chín đồng) (Trong đó nợ gốc: 52.487.435 đồng; phí trễ hạn: 2.210.286 đồng; Lãi quá hạn: 28.080.033 đồng; Phí vượt hạn mức: 512.465 đồng) nên căn cứ theo Hợp đồng tín dụng thì bà T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã tống đạt, niêm yết chứng cứ khởi kiện và các thủ tục tố tụng theo quy định nhưng bà T vẫn không có ý kiến phản hồi, cố tình vắng mặt, vì vậy xem như bà T đã từ chối cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình và mặc nhiên thừa nhận nợ.

Từ nhận định trên, căn cứ vào các Điều 280, 361, 470 Bộ luật dân sự; Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 và ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Chu Dương Thanh T phải thanh toán cho ngân hàng tổng số tiền còn nợ là 83.290.219 đồng (Tám mươi ba triệu, hai trăm chín mươi nghìn, hai trăm mười chín đồng) (Trong đó nợ gốc: 52.487.435 đồng; phí trễ hạn: 2.210.286 đồng; Lãi quá hạn: 28.080.033 đồng; Phí vượt hạn mức: 512.465 đồng).

[4] Về án phí DSST: bà Chu Dương Thanh T phải chịu án phí theo quy định. Hoàn trả nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[5] Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 26, Điều 39, Điều 203, Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; Điều 463, 466 và 468 Bộ luật Dân sự 2015;

Áp dụng Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

Buộc bà Chu Dương Thanh T phải phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền nợ tính đến ngày 23/5/2024 là 83.290.219 đồng (Tám mươi ba triệu, hai trăm chín mươi nghìn, hai trăm mười chín đồng) (Trong đó nợ gốc: 52.487.435 đồng; Phí trễ hạn: 2.210.286 đồng; Lãi quá hạn: 28.080.033 đồng; Phí vượt hạn mức: 512.465 đồng).

Kể từ ngày 24/5/2024 khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo Quyết định của Tòa Á cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Về án phí: Bị đơn bà Chu Dương Thanh T phải chịu 4.164.000 đồng (Bốn triệu, một trăm sáu mươi tư nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền 1.409.920 đồng (Một triệu, bốn trăm linh chín nghìn, chín trăm hai mươi đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0009317 ngày 27/10/2023 của Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa.

Quyết định này được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP.Biên Hòa;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS TP.Biên Hòa;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Thị Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2024/DS-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 55/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín - Thảo
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger