TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 55/2024/HS-ST Ngày 23/4/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Công Định
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Ngọc Côn
Ông Ninh Văn Trung
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Hữu Thơ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2024, thông báo thay đổi thời gian mởi phiên toà số 125/TB-TA ngày 28/03/2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn S; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm 1990 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nơi thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 9/12; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông Nguyễn Văn S1, sinh năm 1965 và con bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1963; Vợ: Trần Thị H, sinh năm 1977 (đã ly hôn); Con: Có 01 con, sinh năm 2013
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/11/2023 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (Có mặt).
* Bị hại: Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1990 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Trần Văn T1, sinh năm 1993 (có mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố H, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Ông Nguyễn Văn S1, sinh năm 1956 (có mặt)
- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1963 (có mặt)
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Bà Tô Thị T2, sinh năm 1965 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố H, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
* Người làm chứng:
- Bà Trần Thị H, sinh năm 1977 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Anh Dương Minh D, sinh năm 2002 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 28/11/2023, Nguyễn Văn S, sinh năm 1990, trú tại tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L, điều khiển xe mô tô biển số 98E1-209.86 đi từ nhà đến Phòng trọ ở thôn T, xã T, huyện L để đón Trần Văn T1, sinh năm 1993, nơi thường trú tổ dân phố H, thị trấn C, huyện L để đi uống thuốc Methadol. Trên đường đi đến tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L, thì S gặp anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1990, trú tại thôn N, xã N, huyện L điều khiển xe mô tô chở theo Trần Thị H, sinh năm 1977, trú tại tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L và Dương Minh D, sinh năm 2002, trú tại thôn N, xã N, huyện L đi ngược chiều với S. Khi đi ngang qua K, S chửi K, thấy vậy K điều khiển xe mô tô vòng quay lại đuổi theo S. Khi đến ngã tư Đ thị trấn C, huyện L thì K đuổi kịp S, K đấm hai cái về phía người S, S bỏ chạy về nhà trọ của T1 để đón T1 đi uống thuốc. Khi đến phòng trọ của T1 thì S vào khu vực bếp lấy 01 con dao phay tổng chiều dài 29cm, phần lưỡi dao màu đen trắng dài 16,5cm, bản rộng 10cm, cán bằng gỗ màu nâu dài 12,5cm để tại bàn nấu ăn ở phòng trọ của T1 mang ra gài vào gác ba ga xe mô tô để đi tìm K. Lúc này Trần Văn T1 cũng cầm theo 01 con dao chiều dài 33,5 cm, phần rộng nhất 3,5 cm, bao da có chiều dài 28,5 cm, chiều rộng 5,5 cm để mang về nhà cho mẹ. S và T1 không có sự bàn bạc gì về việc mang dao đi chém K. Sau đó S điều khiển xe mô tô chở T1 đến Trung tâm y tế huyện L để uống thuốc, khi đi đến gần trường Tiểu học thị trấn C, huyện L thì gặp anh K điều khiển xe mô tô chở theo chị H và anh D đi về hướng xã N. S quay xe lại, đi theo anh K đến đầu cầu thuộc thôn T, xã N, huyện L thì thấy K dừng xe lại để mua đồ ở rìa đường, S cũng dừng xe lại, xuống xe, cầm theo dao đi đến gần K. Thấy S cầm giao tiến lại gần mình, K lấy ngay một con dao có chiều dài 45 cm, lưỡi dao sắc bản rộng lưỡi 4,8 cm, phần lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài 38 cm, phần cán dao bằng gỗ dài 7 cm từ xe mô tô của mình lao ra chỗ S (con dao này của gia đình K, mang đi đàn), S cũng cầm dao đi về phía K, đang giơ dao lên thì bị K dùng dao chém về phía S một nhát nhưng không trúng, dao bị văng ra rơi xuống dưới đất, K quay lại tìm dao, đang trong tư thế hơi cúi xuống để nhặt dao thì S dùng tay phải cầm con dao dơ lên ngang đầu chém về phía trước trúng vào vùng đầu bên phải của anh K. Trong lúc S lao vào chém anh K thì T1 rút dao mang theo ra đi về phía S và K, mục đích để can ngăn, sau đó S bỏ chạy lên hướng đầu cầu về thị trấn C, T1 cất dao đi, K đuổi theo S nhưng không kịp. Sau đó T1 điều khiển xe mô tô của S chở S đến Trung tâm y tế huyện L để uống thuốc Methadol. Khi uống thuốc xong S chở T1 mang theo con dao vừa chém K về nhà trọ của T1 cất, sau đó S đi về nhà. Anh K được người dân đưa đến Trung tâm y tế huyện L cấp cứu, sau đó chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B điều trị từ ngày 28/11/2023 đến ngày 04/12/2023 thì chuyển về Trung tâm y tế huyện L điều trị tiếp từ ngày 04/12/2023 đến 08/12/2023 thì ra viện. Cùng ngày 28/11/2023, nhận thấy hành vi của mình là sai, S đã đến Công an huyện L đầu thú, đồng thời giao nộp 01 con dao phay có tổng chiều dài 29cm, phần lưỡi dao màu đen trắng dài 16,5cm, bản rộng 10cm, cán bằng gỗ màu nâu dài 12,5cm. Cơ quan điều tra đã tiến hành niêm phong ký hiệu “DAO”.
Nhận được tin báo, cùng ngày Cơ quan điều tra đã tổ chức khám nghiệm hiện trường tại đoạn đường liên xã thuộc thôn T, xã N, phát hiện đám dấu vết dạng nhỏ giọt, kích thước trên diện (39,5 x 0,50)m; dùng tăm bông thu giữ mấu dấu vết nghi máu người tại hiện trường, niêm phong trong 03 phong bì thư ký hiệu “Đầu vết”, “giữa vết” và “cuối vết”.
Ngày 28/11/2023, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở (phòng trọ) của Trần Văn T1 ở thôn T, xã T, huyện L, thu giữ 01 (một) con dao bằng kim loại được bọc phần lưỡi bằng bao da không nhãn mác màu nâu, chiều dài con dao 33,5 cm, phần rộng nhất 3,5 cm, bao da có chiều dài 28,5 cm, chiều rộng 5,5 cm. Cơ quan điều tra đã tiến hành niêm phong ký hiệu “TVT”.
Ngày 29 và 31/12/2023, anh Nguyễn Văn K giao nộp 01 (một) chiếc mũ lưỡi trai bằng vải màu đen, trên mũ có thêu chữ Yankees màu vàng, vành mũ bên phải có vết rách; 01 dao dạng dao lưỡi liềm tổng chiều dài 45 cm, lưỡi dao sắc bản rộng lưỡi 4,8cm, phần lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài 38 cm, phần cán dao bằng gỗ dài 7cm.
Ngày 28/11/2023, Cơ quan điều tra tiến hành trích xuất 01 file video có thời gian hiển thị từ 09 giờ 11 phút 33 giây đến 09 giờ 21 phút 29 giây ngày 28/11/2023 tại camera an ninh khu vực ngã ba thôn T, xã N, huyện L ghi lại diễn biến dự việc S gây thương tích cho anh K, sau đó sao lưu vào 02 đĩa CD để phục vụ công tác điều tra.
Ngày 02/02/2024, Cơ quan điều tra cho Nguyễn Văn S, thực nghiệm lại hành vi gây thương tích của S cho anh K. Kết quả thực nghiệm phù hợp với lời khai của các bên.
Tại Giấy chứng nhận thương tích ban đầu ngày 08/12/2023 của Trung tâm y tế huyện L xác định thương tích lúc vào viện của anh Nguyễn Văn K như sau: Vùng đỉnh thái dương phải vết thương 15cm sắc gọn, có đường vỡ xương sọ; CT sọ não: xuất huyết dưới nhện bán cầu đại não phải, vỡ lún xương sọ, có lọt khí nội sọ vùng trán và thái dương phải.
Ngày 29/11/2023, C điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ tổn thương sức khỏe của Nguyễn Văn K trên giường bệnh. Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 1929/23/KLTTCT-TTPY ngày 29/11/2023 của Trung tâm pháp y - Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận: Dấu hiệu chính qua giám định: Thương tích vết thương đã khâu vùng thái dương đỉnh phải kích thước trung bình + Vỡ lún xương sọ, lọt khí nội sọ vùng trán và thái dương phải là: 23%. Kết luận: Căn cứ Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn K tại thời điểm giám định là: 23%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư. Kết luận khác: Vật, cơ chế, chiều hướng, lực gây thương tích: Thương tích do vật sắc gây nên, không xác định được chiều hướng, lực tác động mạnh; sử dụng dao chém gây được thương tích ở vùng đầu cho Nguyễn Văn K.
Ngày 06/02/2024, sau khi anh Nguyễn Văn K xuất viện, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung tỷ lệ thương tích, vật gây thương tích đối với anh Nguyễn Văn K. Tại Bản kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số: 2097/24/KLTTCT-TTPY ngày 20 tháng 02 năm 2024 của Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận:
- Dấu hiệu chính qua giám định: Thương tích vết sẹo vùng thái dương đỉnh phải kích thước trung bình + CT sọ não : Dập não thùy thái dương phải, tụ máu dưới màng cứng cấp lớp mỏng, chảy máu khoang dưới nhện. Vỡ xương thái dương – đỉnh phải+CT sọ não hiện tại : Ổ khuyết não do tổn thương cũ vùng vỏ não thái dương phải đường kính~ 16mm. Vỡ xương trán và xương thái dương phải. Khuyết xương sọ thái dương phải kích thước 55 x24mm là 55%.
- Kết luận: Căn cứ Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn K tại thời điểm giám định là: 55%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Kết luận khác: Vật, cơ chế, chiều hướng, lực gây thương tích: Thương tích do vật sắc gây nên, chiều hướng từ phải sang trái, từ trên xuống dưới, lực tác động mạnh.
Tại Bản kết luận giám định vật gây thương tích số: 2097B/24/KLVGTT-TTPY ngày 20 tháng 02 năm 2024 của T3 pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận: Kết quả chính: Kết quả nghiên cứu mẫu vật: Dao phay. Bằng kim loại, phần lưỡi dao màu đen trắng, cán bằng gỗ màu nâu. Đã qua sử dụng. Tổng chiều dài 29cm, lưỡi dao sắc bản rộng 10cm, dài 16,5cm, cán dao dài 12,5cm. Vật sắc. Gây được thương tích. Kết quả đối chiếu mẫu vật gây thương tích: Vật gửi giám định gây được các thương tích. Kết luận: Căn cứ kết quả các vật gây thương tích được cơ quan trưng cầu giám định gửi đến phù hợp với đặc điểm của tổn thương, xác định: Vật gửi giám định là vật gây ra được các thương tích cho Nguyễn Văn K.
Tại Bản kết luận giám định bổ sung qua hồ sơ số: 2097C/24/KLBSHS-PY ngày 20 tháng 02 năm 2024 của T3 pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận: Dựa vào hồ sơ, tài liệu; Biên bản thực nghiệm điều tra; Bản ảnh thực nghiệm điều tra kết luận: Theo tình huống thực nghiệm điều tra Nguyễn Văn S gây được thương tích cho Nguyễn Văn K.
Ngày 22/12/2023, Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định kỹ thuật số điện tử đối với 01 (một) đĩa CD lưu trữ 01file video được trích xuất từ camera an ninh khu vực ngã 3 thôn T, xã N, huyện L. Tại Kết luận giám định số: 2620/KL-KTHS ngày 28/12/2023 của Phòng K1 - Công an tỉnh B kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép nội dung hình ảnh trong file video có tên "L_20231128_091207.mp4" dung lượng:441MB; thời lượng: 10 phút 02 giây được lưu trữ trong đĩa DVD-R gửi giám định. Trích xuất được 14 (mười bốn) hình ảnh thể hiện diễn biến sự việc có trong file video gửi giám định.
Ngày 12/01/2024, Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định để giám định máu đối với đồ vật, mẫu vật thu giữ gồm mẫu ghi là máu thu giữ tại hiện trường, 01 con dao dài 29cm, 01 con dao dài 23,5cm, 01 mũ lưỡi chai. Tại kết luận giám định số: 260/KL-KTHS Ngày 29/01/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh B kết luận: Trên 01 (một) mũ lưỡi trai bằng vải màu đen và mẫu được niêm phong trong các phong bì ký hiệu “ĐẦU VẾT”, “GIỮA VẾT”, “CUỐI VẾT” đều có máu người, không xác định được nhóm máu do chất lượng dấu vết kém; trên 02 (hai) con dao được niêm phong trong 02 (hai) phong bì ký hiệu “TVT”, “DAO” đều không phát hiện thấy dấu vết máu.
Quá trình điều tra Nguyễn Văn S khai khi Nguyễn Văn K đuổi theo và gặp S ở khu vực ngã tư Đ thị trấn C thì có dùng tay phải đấm hai cái trúng vào vùng đầu của S và đạp một cái trúng vào xe của S nhưng không gây thương tích và hư hỏng tài sản; trước đó ngày 26/11/2023 thì K có dùng chân đạp trúng vào người S hai lần, làm bầm tím cơ thể, tuy nhiên S không đi điều trị tại đâu. K thừa nhận ngày 28/11/2023 có dùng tay đấm hai cái về phía S nhưng không trúng, ngoài ra không gây thương tích cho S lần nào khác. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất giữa S và K, các bên vẫn giữ nguyên lời khai của mình. Mặt khác S cũng không yêu cầu đề nghị giải quyết về nội dung này nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Từ những nội dung trên, bản Cáo trạng số 47/CT-VKS-LNg ngày 11 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Bị cáo xác định do có mâu thuẫn từ trước nên bị cáo đã dùng dao là hung khí nguy hiểm chém gây thương tích cho anh Nguyễn Văn K 55% sức khỏe. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật. Cáo trang của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan.
Tại phiên toà hôm nay, bị hại Nguyễn Văn K trình bày diễn biến sự việc xảy ra ngày 28/11/2023 như nội dung bản cáo trạng đã nêu là đúng. Anh K đã được gia đình bị cáo bồi thường cho tổng số tiền 76.000.000 đồng. Nay anh K không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm khoản tiền nào khác và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo S.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị T trình bày: Bà T là mẹ đẻ của bị cáo S, bị cáo S đã tác động bà T đứng ra bồi thường cho bị hại là anh K số tiền 76.000.000 đồng. Nay bà T không yêu cầu bị cáo S phải trả bà T số tiền bà T đã đứng bồi thường anh K.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn S1, anh Trần Văn T1 vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, không có nội dung khai báo gì mới.
Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn giữ quyền công tố nhà nước tại phiên toà đã luận tội bị cáo, phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn điểm điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S từ 06 (Sáu) năm đến 06 (Sáu) năm 06 (S2) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/11/2023.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại đã tự thoả thuận giải quyết được với nhau nên không đề nghị HĐXX xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao phay tổng chiều dài 29cm, phần lưỡi dao màu đen trắng dài 16,5cm, bản rộng 10cm, cán bằng gỗ màu nâu dài 12,5cm.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Văn S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo S tranh luận: Bị cáo S cho rằng hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị HĐXX xem xét áp dụng với bị cáo là nặng.
Bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Đại diện Viện kiểm sát đối đáp: Căn cứ vào mức độ hành vi tội phạm của bị cáo, mức thương tích bị cáo gây ra cho bị hại K, khung hình phạt bị cáo phải chịu, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng, Kiểm sát viên thấy mức hình phạt Kiểm sát viên đưa ra là phù hợp nên Kiểm sát viên giữ nguyên đề nghị.
Bị cáo S không có ý kiến gì tranh luận khác.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình, xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hội đồng xét xử xét thấy hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến kết quả xét xử. Căn cứ quy định tại Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn S khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng tang vật chứng thu được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận:
“Khoảng hơn 9 giờ ngày 28/11/2023, tại đoạn đường liên xã thuộc thôn T, xã N, huyện L, do có mâu thuẫn cá nhân từ trước, Nguyễn Văn S đã có hành vi dùng 01 con dao phay tổng chiều dài 29cm, phần lưỡi dao màu đen trắng dài 16,5cm, bản rộng 10cm, cán bằng gỗ màu nâu dài 12,5cm là hung khí nguy hiểm, chém một nhát vào vùng đầu bên phải của anh Nguyễn Văn K, gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 55%".
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 3 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1) Điều 134 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng và bản Luận tội của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tại phiên tòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, làm mất trật tự trị an ở địa phương. Chỉ vì xuất phát từ việc mâu thuẫn cá nhân mà bị cáo S đã dùng cao dao phay là những hung khí nguy hiểm chém gây thương tích cho anh Nguyễn Văn K 55% sức khỏe. Qua đó thể hiện bị cáo là người coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác, coi thường pháp luật của Nhà nước. Do đó cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo nhằm giáo dục riêng, cũng như để đấu tranh phòng ngừa đối với loại tội phạm này nói chung.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 76.000.000 đồng, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Qua đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự bắt bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để cải tạo, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng chống loại tội phạm này nói chung.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà bị cáo S và bị hại K thoả thuận được với nhau về việc bồi thường dân sự với số tiền là 76.000.000 đồng và hai bên đã bồi thường cho nhau xong. Bị hại K không yêu cầu bị cáo S bồi thường thêm khoản tiền nào khác. Do đó, HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
[7] Các vấn đề khác trong vụ án:
Đối với hành vi của Trần Văn T1: S và T1 đều khai không bàn bạc với nhau về việc gây thương tích cho anh K, T1 không biết S mang dao từ nhà của mình đi để gây thương tích cho anh K, T1 mang theo 01 con dao khác đi mục đích là mang về nhà cho mẹ là bà Tô Thị T2, sinh năm 1965, trú tại tổ dân phố H, thị trấn C, huyện L; khi S chém gây thương tích cho anh K thì T1 có rút dao ra, mục đích để can ngăn. Do vậy không có đủ căn cứ để xác định Trần Văn T1 đồng phạm với Nguyễn Văn S về tội “Cố ý gây thương tích”. Cơ quan điều tra không xử lý đối với Trần Văn T1 là có căn cứ.
Đối với chiếc xe mô tô biển số 98E1-209.86 là của ông Nguyễn Văn S1, sinh năm 1965, trú tại tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang (bố đẻ Nguyễn Văn S). Ông S1 không biết S dùng chiếc xe mô tô trên để đi gây thương tích cho anh K, Cơ quan điều tra không tiến hành thu giữ là có căn cứ.
Ngày 24/02/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại các tài sản không liên quan đến hành vi phạm tội cho chủ sở hữu. Cùng ngày bà Tô Thị T2 đã nhận lại 01 con dao dài 33,5 cm; anh K đã nhận lại 01 con dao dài 45 cm và 01 (một) chiếc mũ lưỡi trai là có căn cứ.
[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) con dao phay tổng chiều dài 29cm, phần lưỡi dao màu đen trắng dài 16,5cm, bản rộng 10cm, cán bằng gỗ màu nâu dài 12,5cm đã qua sử dụng là vật chứng sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
[9] Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Văn S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 3 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1) Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 06 (Sáu) năm 06 (S2) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/11/2023.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao phay tổng chiều dài 29cm, phần lưỡi dao màu đen trắng dài 16,5cm, bản rộng 10cm, cán bằng gỗ màu nâu dài 12,5cm.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Văn S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày Toà án niêm yết công khai.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đặng Công Định |
Bản án số 55/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về hình sự (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 55/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn S Cố ý gây thương tích
