|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 55/2023/HS-ST Ngày: 22/12/2023 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Quang Huy.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Thái;
Bà La Thị Huệ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Thị Yến, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa:Bà Ma Thị Hà và ông Trần Đức Chung, Kiểm sát viên.
Ngày 22/12/2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2023/TLST-HS, ngày 27/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2023/QĐXXST-HS ngày 08/12/2023 đối với bị cáo: Triệu Quý P, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 03 tháng 8 năm 1972, tại tỉnh Bắc Kạn; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Con ông Triệu Xuân M và bà Triệu Thị T; Bị cáo có vợ là Phùng Thị N; Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2008. Tiền án, tiền sự: Không.
Về nhân thân: Ngày 18/9/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 12 (mười hai) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”. Ngày 12/9/2023, bị Hạt kiểm lâm huyện C, tỉnh Bắc Kạn xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp với số tiền 9.000.000 đồng tại Quyết định số 46/QĐ-XPHC. Ngày 02/8/2023, bị Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh B khởi tố, điều tra về hành vi “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ”.
Bị cáo hiện đang chấp hành án tại Đội 3, Phân trại số A, Trại giam P1, Bộ C. Có mặt tại phiên tòa.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phùng Thị N, sinh năm 1982; Trú tại: Thôn B, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 16 giờ 10 phút ngày 03/7/2023, tổ công tác thuộc Phòng C1 Công an tỉnh B phát hiện Triệu Quý P, sinh năm 1972, trú tại thôn B, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn có hành vi tàng trữ trái phép vũ khí, vật liệu nổ tại nhà của gia đình ở địa chỉ nêu trên. Qua làm việc, Triệu Quý P tự nguyên giao nộp các đồ vật, tài sản gồm:
- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, loại bàn phím, đã qua sử dụng, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “P1”.
- 01 (một) khẩu súng, nòng súng bằng kim loại có kích thước 0,75m, báng súng bằng gỗ dài 0,68m, có dây đeo từ nòng súng đến báng súng, được niêm phong trong bìa catton ký hiệu “P2”.
- 01 (một) lọ nhựa màu trắng, đã qua sử dụng, bên trong chứa 01 (một) túi nilon trong suốt có chứa chất bột màu đen, được niêm phong trong hộp bìa catton ký hiệu “P3”.
- 01 (một) dây đeo gắn đạn bằng da, có móc nối hai đầu, một đầu móc nối được buộc bằng dây dứa màu đỏ, dây đeo được gắn 16 (mười sáu) viên đạn, 03 (ba) cattut bên trong không có đạn; 04 (bốn) viên đạn; 02 (hai) vỏ đạn; 01 (một) hộp nhựa trong suốt, vỏ hộp màu trắng, bên trong chứa 157 (một trăm năm mươi bảy) hạt nổ; 05kg (kilôgam) đạn chì; 01 (một) đoạn gỗ dạng dùi dài 09cm, đoạn hình trụ dài 4,2cm; 01 (một) dũa báng gỗ hình trụ dài 6,2cm, phần kim loại dài 2,1cm; 02 (hai) vỏ đạn được cắt có chiều dài 1,9cm, đường kính 01cm, một đầu đạn được cuốn dây kim loại; 01 (một) thanh kim loại dài 08cm; 01 (một) đoạn gỗ dạng dùi dài 15,6cm; 01 (một) đoạn trụ dài 4,6cm; 01 (một) mẩu gỗ hình chữ nhật có kích thước 6cm x 5,6cm x 2cm; 01 (một) thanh kim loại hình trụ có một đầy nhọn dài 08cm; 01 (một) túi nilon bên trong có 11 (mười một) hạt kim loại; 01 (một) bật lửa màu tím; 01 (một) miếng dạng sáp không rõ hình thù. Tất cả được niêm phong trong hộp bìa catton ký hiệu “P4”.
-
Tại phòng ngủ của Triệu Quý P phát hiện, thu giữ:
- + 06 (sáu) túi nilon bên trong có chứa chất bột màu nâu có khối lượng 2,2kg, được niêm phong trong thùng bìa catton ký hiệu “P5”.
- + 01 (một) túi nilon màu xanh bên trong có nhiều túi chứa hạt kim loại màu xám, dạng hình tròn, kích thước khác nhau có tổng khối lượng 8,5kg; 01 (một) túi nilon bên trong có nhiều túi zip nhỏ có vạch đỏ tại miệng túi; 01 (một) túi nilon bên trong có nhiều túi nilon trong suốt; 01 (một) cân đồng hồ màu xanh, nhãn hiệu “NHƠN HÒA”, loại 05kg. Tất cả được niêm phong trong hộp bìa catton ký hiệu “P6”.
- + Số tiền 24.190.000 đồng, niêm phong trong phong bì ký hiệu “P7”.
- Bên trong bếp phát hiện, thu giữ: 04 (bốn) hộp nhựa màu vàng, bên trong có chứa nhiều hạt kim loại màu xám dạng hình nấm có tổng khối lượng 1,4kg, được niêm phong trong hộp bìa catton ký hiệu “P8”.
- Trong tủ nhựa màu trắng ở sân trước cửa nhà phát hiện, thu giữ: 01 (một) túi nilon trong suốt, bên trong chứa chất bột màu vàng có khối lượng 40g (bốn mươi gam); 06 (sáu) hộp nhựa màu vàng bên trong chứa nhiều hạt kim loại màu xám dạng hình nấm có tổng khối lượng là 2,1kg; 03 (ba) túi nilon bên trong chứa nhiều viên kim loại màu xám, dạng hình tron có tổng khối lượng 0,94kg; 16 (mười sáu) vỏ kim loại màu vàng. Tất cả được niêm phong trong thùng bìa catton ký hiệu “P9”.
- Trong cốp xe máy nhãn hiệu Lead, BKS 97B1 – 740.58 phạt hiện, thu giữ: 01 (một) chiếc cân 10 đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc cân treo hình tròn, màu cam; 14 (mười bốn) vỏ kim loại màu vàng; 01 (một) gói nilon màu xanh, bên trong chứa nhiều gói, hộp nhựa đựng các hạt kim loại màu xám. Tất cả được niêm phong trong thùng bìa catton ký hiệu "P10".
- Phía bên trái chiếc tủ nhựa màu trắng ở trước sân nhà từ ngoài vào phát hiện, thu giữ: 10 (mười) gói giấy bên trong chứa các hạt kim loại màu xám có tổng khối lượng là 20kg; 02 (hai) túi nilon, bên trong chứa các hạt kim loại màu xám có khối lượng 0,2kg. Tất cả được niêm phong trong thùng bìa catton ký hiệu "P11".
Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn tạm giữ của Triệu Quý P 16 (mười sáu) cá thể rùa các loại, được niêm phong trong hộp xốp màu trắng ký hiệu “A1”; 02 (hai) cá thể rắn các loại, được niêm phong trong hộp xốp màu trắng ký hiệu “A2” và 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA LEAD, màu xanh nâu, biển kiểm soát 97B1 – 740.58 đã qua sử dụng (kèm theo giấy tờ xe).
Ngày 04/7/2023, Phòng hình sự Công an tỉnh B chuyển hồ sơ vụ việc cùng các đồ vật, tài liệu liên quan đến vũ khí, vật liệu nổ đến Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh B; chuyển các đồ vật, tài liệu liên quan đến động vật hoang dã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Bắc Kạn để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Biên bản mở niêm phong kiểm tra, cân xác định khối lượng và niêm phong đồ vật, tài liệu tạm giữ của Triệu Quý P xác định:
Tại Biên bản mở niêm phong kiểm tra, cân xác định khối lượng và niêm phong đồ vật, tài liệu tạm giữ của Triệu Quý P xác định:
- Mở phong bì ký hiệu P1, bên trong có 01 (một) điện thoại di động màu đen nhãn hiệu NOKIA loại bàn phím, cũ đã qua sử dụng. Sau khi mở niêm phong được niêm phong lại trong phong bì ký hiệu A1.
- Mở cuộn catton ký hiệu P2, bên trong có 01 (một) khẩu súng màu đen, có báng bằng gỗ, nòng kim loại, có tổng chiều dài 1,14m; nòng súng dài 0,78m; có dây vải gắn vào báng súng và nòng súng. Sau khi mở niêm phong được niêm phong lại bằng 03 (ba) giấy niêm phong ký hiệu A2.
- Mở hộp catton ký hiệu P3, bên trong có 01 (một) hộp nhựa màu trắng đã cũ, bên trong có chứa một túi nilon, bên trong túi nilon có chứa bột màu đen có khối lượng là 17,53g (mười bảy phẩy năm mươi ba gam). Sau khi mở niêm phong được niêm phong lại trong túi niêm phong ký hiệu NS2A 072558..
-
Mở hộp catton ký hiệu P4, bên trong có:
- + 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong có chứa: dây đai màu đen hai đầu có móc kim loại, chiều dài 0,7m; trên dây đai có gắn 16 ống trụ tròn kim loại đã được bịt kín hai đầu, mỗi ống có chiều dài 5,2cm; 03 ống kim loại rỗng có chiều dài 5,2cm.
- + 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong có chứa: 04 ống trụ tròn kim loại đã được bịt kín hai đầu, mỗi ống có chiều dài 5,2cm; 02 ống kim loại rỗng có chiều dài 5,2cm; 03 mẩu gỗ hình trụ có kích thước khác nhau; 02 (hai) thanh kim loại màu đen dài khoảng 09 cm; 01 (một) mẩu gỗ hình vuông; 02 (hai) vỏ kim loại có gắn dây bằng kim loại; 01 (một) túi nilon bên trong chứa sáp nến; 11 (mười một) hạt kim loại màu vàng trắng có khối lượng 2,12g (hai phẩy mười hai gam); 01 (một) hộp nhựa bên trong có một vỉ giấy có một mặt màu đỏ, một mặt màu trắng có đính các hạt màu đen và các mẩu giấy có đính các hạt màu đen có khối lượng 3,92g (ba phẩy chín mươi hai gam).
- + 01 (một) túi nilon bên trong có chứa các viên kim loại hình cầu có kích thước khác nhau, có khối lượng là 4,8kg (bốn phẩy tám kilôgam).
Sau khi mở niêm phong các đồ vật, tài liệu nêu trên được niêm phong cụ thể như sau: 20 (hai mươi) ống trụ tròn kim loại được bịt kín hai đầu, mỗi ống có chiều dài 5,2cm được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu NS2A 072559; 05 (năm) ống kim loại rỗng có chiều dài 5,2cm nghi là vỏ đạn được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu NS2A 072560; 11 (mười một) hạt kim loại màu vàng trắng có khối lượng 2,12g (hai phẩy mười hai gam); 01 (một) hộp nhựa bên trong có một vỉ giấy có một mặt màu đỏ, một mặt màu trắng có đính các hạt màu đen và các mẩu giấy có đính các hạt màu đen có khối lượng 3,92g (ba phẩy chín mươi hai gam), được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu NS2A 072561; Các viên kim loại hình cầu có kích thước khác nhau, có khối lượng là 4,8kg (bốn phẩy tám kilôgam), được niêm phong trong hộp catton ký hiệu A4; 02 (một) túi nilon; dây đai màu đen hai đầu có móc kim loại, chiều dài 0,7m; 03 mẩu gỗ hình trụ có kích thước khác nhau; 02 (hai) thanh kim loại màu đen dài khoảng 09 cm; 01 (một) mẩu gỗ hình vuông; 02 (hai) vỏ kim loại có gắn dây bằng kim loại; 01 (một) túi nilon bên trong chứa sáp nến được niêm phong trong hộp xốp màu trắng ký hiệu A5.
- Mở hộp catton ký hiệu P5, bên trong có 06 (sáu) túi nilon trong suốt, bên trong có chứa bột màu xám đen có tổng khối lượng 2,15 kg (hai phẩy mười năm kilôgam). Sau khi mở niêm phong được niêm phong lại trong hộp catton màu xanh ký hiệu A3.
- Mở hộp catton ký hiệu P6, bên trong có: 01 (một) chiếc cân loại đồng hồ 05kg (năm kilogam), màu xanh nhãn hiệu “NHƠN HOÀ”; 02 (hai) túi nilon màu trắng bên trong chứa tổng cộng 1092 (một nghìn không trăm chín mươi hai) túi nilon nhỏ màu trắng; 01 (một) túi nilon màu xanh bên trong có chứa các viên kim loại hình cầu có kích thước khác nhau có tổng khối lượng 8,8 kg (tám phẩy tám kilôgam).
Sau khi mở niêm phong: 01 (một) chiếc cân loại đồng hồ 05kg (năm kilogam), màu xanh nhãn hiệu “NHƠN HOÀ”; 02 (hai) túi nilon màu trắng bên trong chứa tổng cộng 1092 (một nghìn không trăm chín mươi hai) túi nilon nhỏ màu trắng và 01 (một) túi nilon màu xanh được niêm phong trong hộp xốp màu trắng ký hiệu A5. Các viên kim loại hình cầu có kích thước khác nhau có tổng khối lượng 8,8kg (tám phẩy tám kilôgam) được niêm phong trong hộp catton ký hiệu A4.
- Mở hộp catton ký hiệu P8, bên trong có 01 (một) túi nilon màu xanh bên trong chứa: 04 (bốn) hộp nhựa màu vàng, bên trong các hộp có chứa nhiều viên kim loại hình nấm có tổng khối lượng 1,32kg (một phẩy ba mươi hai kilôgam). Sau khi mở niêm phong, các viên kim loại hình nấm có tổng khối lượng 1,32kg (một phẩy ba mươi hai kilôgam) được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu NS2A 072562. Đối với 01 (một) túi nilon màu xanh và 04 (bốn) hộp nhựa màu vàng được niêm phong trong hộp xốp màu trắng ký hiệu A5.
- Mở hộp catton ký hiệu P9, bên trong có 01 (một) túi nilon bên trong có chứa: 06 (sáu) hộp nhựa màu vàng, bên trong các hộp chứa nhiều viên kim loại hình nấm có tổng khối lượng 1,98kg (một phẩy chín mươi tám kilôgam); 04 (bốn) túi nilon, bên trong các túi có chứa nhiều viên kim loại hình cầu có kích thước khác nhau, có tổng khối lượng là 0,96kg (không phẩy chín mươi sáu kilôgam); 01 (một) túi nilon bên trong chứa 18 (mười tám) ống kim loại hình trụ tròn màu vàng có chiều dài 1,5cm; 01 (một) túi nilon bên trong chứa bột màu vàng có khối lượng là 03g (ba gam).
Sau khi mở niêm phong: 18 (mười tám) ống kim loại hình trụ tròn màu vàng có chiều dài 1,5cm được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu NS2A 072563; 03g (ba gam) bột màu vàng được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu NS2A 072564; Các viên kim loại hình nấm có tổng khối lượng 1,98kg (một phẩy chín mươi tám kilôgam) được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu NS2A 072562. Các viên kim loại hình cầu có kích thước khác nhau, có tổng khối lượng là 0,96kg (không phẩy chín mươi sáu kilôgam) được niêm phong trong hộp catton ký hiệu A4. Đối với 05 túi nilon cũ và 06 (sáu) hộp nhựa màu vàng được niêm phong trong hộp xốp màu trắng ký hiệu A5.
- Mở hộp catton ký hiệu P10, bên trong có: 01 (một) chiếc cân bằng kim loại dạng treo; 01 (một) chiếc cân loại móc vỏ nhựa; 01 (một) túi nilon màu đỏ bên trong chứa 14 (mười bốn) ống kim loại hình trụ tròn rỗng ruột màu vàng có chiều dài 05cm; 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong chứa bột màu đen có khối lượng là 100g (một trăm gam); 03 (ba) hộp nhựa màu vàng bên trong các hộp chứa nhiều hạt kim loại hình nấm có tổng khối lượng là 01kg (một kilôgam); 07 (bảy) túi nilon màu trắng, bên trong các túi chứa nhiều viên kim loại hình cầu có kích thước khác nhau có tổng khối lượng 2,78 kg (hai phẩy bảy mươi tám kilôgam).
Sau khi mở niêm phong: 14 (mười bốn) ống kim loại hình trụ tròn rỗng ruột màu vàng có chiều dài 05cm được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu
NS2A 072565; 100g (một trăm gam) bột màu đen được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu NS2A 072566; Các hạt kim loại hình nấm có tổng khối lượng là 01kg (một kilôgam) được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu NS2A 072562; Các viên kim loại hình cầu có kích thước khác nhau có tổng khối lượng 2,78 kg (hai phẩy bảy mươi tám kilôgam), được niêm phong trong hộp catton ký hiệu A4. Đối với 01 (một) chiếc cân bằng kim loại dạng treo; 01 (một) chiếc cân loại móc vỏ nhựa; 01 (một) túi nilon màu đỏ; 08 (tám) túi nilon màu trắng; 03 (ba) hộp nhựa màu vàng, được niêm phong trong hộp xốp màu trắng ký hiệu A5.
- Mở hộp catton ký hiệu P11, bên trong có 02 (hai) túi nilon trong suốt, bên trong các túi chứa nhiều viên kim loại hình nấm có kích thước khác nhau có tổng khối lượng là 0,26kg (không phẩy hai mươi sáu kilôgam); 10 (mười) túi giấy bên trong có chứa các viên kim loại hình cầu có kích thước khác nhau có tổng khối lượng là 20kg (hai mươi kilôgam). Sau khi mở niêm phong các viên kim loại hình nấm có kích thước khác nhau có tổng khối lượng là 0,26kg (không phẩy hai mươi sáu kilôgam) được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu NS2A 072562; Các viên kim loại hình cầu có kích thước khác nhau có tổng khối lượng là 20kg (hai mươi kilôgam) được niêm phong trong hộp catton ký hiệu A4. Đối với 02 (hai) túi nilon trong suốt và 10 (mười) túi giấy cũ được niêm phong trong hộp xốp màu trắng ký hiệu A5.
Đối với phong bì niêm phong ký hiệu P7 xác định là số tiền tạm giữ của Triệu Quý P nên Cơ quan điều tra không tiến hành mở niêm phong kiểm tra mà trưng cầu cơ quan chuyên môn kiểm tra, giám định tiền thật, tiền giả và bảo quản theo quy định.
Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định đối với số tang vật thu giữ của Triệu Quý P xác định được như sau:
Tại Kết luận giám định số 4914/KL-KTHS, ngày 17 tháng 7 năm 2023 của V - Bộ C kết luận:
“- Chất bột màu đen đựng trong 01 túi niêm phong mã số NS2A 072558, chất bột màu đen đựng trong túi niêm phong mã số NS2A 072566, chất bột màu vàng xanh đựng trong 01 túi niêm phong mã số NS2A 072564 và mẫu vật ký hiệu A3 gửi giám định đều là thuốc phóng NC (N1), thường dùng làm liều phóng trong các loại đạn.
- 01 túi niêm phong mã số NS2A 072561 bên trong gồm:
- + 11 vật hình trụ, vỏ kim loại màu vàng, bên trong mỗi hạt đều có chứa chất bột màu nâu đỏ đều là hạt nổ.
- + 01 vỉ hạt (dạng hạt nổ), bọc vỏ giấy màu đỏ, trắng và các hạt hình tròn dẹt bọc vỏ giấy màu xám đều là hạt nổ.
- + Hạt nổ là phụ kiện nổ thuộc nhóm vật liệu nổ.
Tất cả các mẫu vật trên đều còn sử dụng được.
Căn cứ vào Mục 7 điều 3 luật 14/2017/QH14 về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ thì số thuốc phóng và hạt nổ trên đều thuộc vật liệu nổ”.
Tại Kết luận giám định số 5077/KL-KTHS, ngày 26 tháng 7 năm 2023 của V - Bộ C kết luận:
“- Khẩu súng gửi giám định là súng bắn đạn ghém cỡ 32, thuộc vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự súng săn, hiện còn sử dụng để bắn được.
- 20 viên đạn (mã số NS2A 072559) gửi giám định là đạn ghém cỡ 32 có tính năng, tác dụng tương tự súng săn và sử dụng lắp, bắn được bằng khẩu súng nêu trên.
- 14 vỏ đạn (mã số NS2A 072565) và 05 vỏ đạn ( mã số NS2A 072560) gửi giám định là vỏ đạn của loại đạn ghém cỡ 32, không thuộc danh mục vũ khí.
- 18 vỏ đạn (mã số NS2A 072563) gửi giám định là vỏ đạn của loại đạn thể thao cỡ 5,6x15,5mm.
- 4,56kg các viên đạn hình nấm (mã số NS2A 072562) là đạn hình nấm các cỡ 4,5mm; 5,5mm; 6,35mm, thuộc súng săn, sử dụng bắn được bằng các loại súng hơi các cỡ 4,5mm; 5,5mm; 6,35mm.
- 37,34kg các viên bi kim loại (ký hiệu A4) gửi giám định sử dụng để nhồi (đóng) được trong nòng súng kíp và trong đạn ghém các cỡ 12,16, ....32, không thuộc danh mục vũ khí”.
Tại cơ quan điều tra, Triệu Quý P thừa nhận: Khoảng năm 1996, P đã tự chế tạo 01 (một) khẩu súng có báng bằng gỗ, nòng súng bằng kim loại, loại súng bắn đạn gém, mục đích chế tạo để săn bắn. Đến năm 2013, tại nhà của bị cáo thuộc thôn B, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn P mua với một người đàn ông (không rõ lai lịch cụ thể) khoảng 2kg (hai kilôgam) thuốc súng; một vỉ hạt nổ (không rõ số lượng cụ thể); khoảng hơn 30kg (ba mươi kilôgam) đạn chì và 30 vỏ đạn loại K44 với tổng số tiền khoảng 2.000.000đ (hai triệu đồng). Sau đó, P chế tạo các viên đạn ghém từ vỏ đạn (loại K44) cùng hạt nổ, thuốc súng, đạn chì, mục đích để sử dụng cho khẩu súng tự chế của P. Số thuốc súng, hạt nổ, vỏ đạn, đạn ghém, đạn chì và khẩu súng nêu trên được P cất giấu trong nhà của bị cáo, đến ngày 03/7/2023, thì bị cơ quan Công an tỉnh B phát hiện, thu giữ. Việc P tàng trữ trái phép vũ khí, vật liệu nổ nêu trên ngoài P ra thì không ai biết.
Tại Bản cáo trạng số:44/CT-VKSBK-P1 ngày 26/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn đã truy tố Triệu Quý P về tội “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ” theo quy định tại khoản 1, Điều 305 Bộ luật Hình sự.
Điều luật có nội dung:
“1. Người nào... tàng trữ... trái phép vật liệu nổ, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm”.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như bản Cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):
- Tuyên bố bị cáo Triệu Quý P phạm tội “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ”.
- Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1, Điều 305; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, Điều 56; Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 12 tháng tù tại Bản án số 40/HS-ST ngày 18/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là từ 24 đến 27 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/10/2023.
- Phạt bổ sung: Không đề nghị.
-
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) hộp catton niêm phong kí hiệu H1 bên trong chứa 2,107kg (hai phẩy một bảy kilôgam) thuốc phóng NC (Nitroxenlulo); 01 (một) hộp catton niêm phong ký hiệu H2 bên trong chứa: 09 (chín) vật hình trụ tròn, vỏ kim loại màu vàng bên trong mỗi hạt đều chứa chất bột màu nâu đỏ đều là hạt nổ được đựng trong túi nilon; 01 (một) vỉ hạt (dạng hạt nổ), bọc vỏ giấy có một mặt màu đỏ, trắng và các hạt hình tròn dẹt bọc vỏ giấy màu xám (hoàn trả sau giám định); Hộp nhựa; túi nilon; 02 (hai) thanh kim loại; 04 (bốn) mẩu gỗ; 02 (hai) vỏ kim loại có gắn dây bằng kim loại.
- + Tịch thu ½ giá trị chiếc xe mô tô biển số 97B1 – 740.58; Có số khung: RLHJF7912HY083032; Số máy: JF79E0116946; Nhãn hiệu xe: HONDA; Loại xe: Hai bánh từ 50-175cm³; Số loại: LEAD; Màu sơn: Xanh nâu; Dung tích xi lanh: 124 (kèm theo 01 (một) Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 041310 của xe mô tô biển kiểm soát 97B1 – 740.58) để sung ngân sách Nhà nước; ½ giá trị còn lại của chiếc xe mô tô trả lại cho bà Phùng Thị N.
- + Tịch thu hóa giá sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu NOKIA loại bàn phím đã qua sử dụng.
- + Trả lại cho bị cáo: 01 (một) chiếc cân bằng kim loại; 01 (một) chiếc cân loại đồng hồ; 01 (một) căn cước công dân số [...] mang tên Triệu Quý P do Cục Cảnh sát QLHC về TTXH Bộ C cấp ngày 27/6/2021.
- + Trả lại cho bà Phùng Thị N số tiền 24.190.000 đồng.
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn truy tố bị cáo về tội danh và điều luật là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có căn cứ để khẳng định:
Khoảng năm 2013, tại thôn B, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, Triệu Quý P có hành vi mua trái phép 2,27053kg (hai phẩy hai bảy không năm ba kilôgam) thuốc phóng NC (nitroxenlulo) và 6,04g (sáu phẩy không bốn gam) hạt nổ thuộc nhóm vật liệu nổ của một người đàn ông không rõ lai lịch cụ thể, với số tiền khoảng 2.000.000đ (hai triệu đồng), sau đó mang về cất giấu tại nhà của bị cáo thuộc thôn B, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn với mục đích để sử dụng săn bắn. Đến ngày 03/7/2023 thì bị tổ công tác thuộc Công an tỉnh B phát hiện, thu giữ toàn bộ số tang vật nêu trên.
Tại Kết luận giám định số 4914/KL-KTHS, ngày 17 tháng 7 năm 2023 của V - Bộ C kết luận:
“- Chất bột màu đen đựng trong 01 túi niêm phong mã số NS2A 072558, chất bột màu đen đựng trong túi niêm phong mã số NS2A 072566, chất bột màu vàng xanh đựng trong 01 túi niêm phong mã số NS2A 072564 và mẫu vật ký hiệu A3 gửi giám định đều là thuốc phóng NC (N1), thường dùng làm liều phóng trong các loại đạn.
- 01 túi niêm phong mã số NS2A 072561 bên trong gồm:
- + 11 vật hình trụ, vỏ kim loại màu vàng, bên trong mỗi hạt đều có chứa chất bột màu nâu đỏ đều là hạt nổ.
- + 01 vỉ hạt (dạng hạt nổ), bọc vỏ giấy màu đỏ, trắng và các hạt hình tròn dẹt bọc vỏ giấy màu xám đều là hạt nổ.
- + Hạt nổ là phụ kiện nổ thuộc nhóm vật liệu nổ.
Tất cả các mẫu vật trên đều còn sử dụng được.
Căn cứ vào Mục 7 điều 3 luật 14/2017/QH14 về quản lý, sử dụng vũ khí, vậtliệu nổ và công cụ hỗ trợ thì số thuốc phóng và hạt nổ trên đều thuộc vật liệu nổ”.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép vật liệu nổ” theo quy định tại khoản 1 Điều 305 Bộ luật Hình sự, Cáo trạng truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Hành vi bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến hoạt động quản lý của Nhà nước về vật liệu nổ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương. Do đó, cần thiết phải có hình phạt nghiêm khắc mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo.
[4] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 18/9/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 12 (mười hai) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”. Ngày 12/9/2023, bị Hạt kiểm lâm huyện C, tỉnh Bắc Kạn xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp với số tiền 9.000.000 đồng tại Quyết định số 46/QĐ-XPHC.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ngoài ra bị cáo có em trai ruột là Triệu Quý B được Nhà nước tặng thưởng Huy chương chiến sĩ vẻ vang và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B tặng Bằng khen; có bác ruột là ông Triệu Tiến L được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang và bà Triệu Thị S được tặng Huy chương kháng chiến Hạng nhì. Do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào các quy định của BLHS, sau khi cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX xét thấy: Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, điều đó cho thấy ý thức coi thường pháp luật của bị cáo, do đó, cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đảm bảo răn đe.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 305 BLHS người phạm tội còn có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, qua các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, xét thấy bị cáo tàng trữ vật liệu nổ không nhằm mục đích vụ lợi, bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, hiện nay bị cáo đang đi chấp hành án. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Đối với: 01 (một) khẩu súng bắn đạn ghém cỡ 32; 10 (mười) viên đạn là đạn ghém cỡ 32; 19 (mười chín) vỏ đạn của loại đạn ghém cỡ 32; 18 (mười tám) vỏ đạn của loại đạn thể thao cỡ 5,6x15,5mm; 4,56kg (bốn phẩy năm mươi sáu kilôgam) đạn hình nấm; 37,34kg (ba mươi bảy phẩy ba mươi bốn kilôgam) viên bi kim loại (hoàn trả sau giám định), Cơ quan điều tra đã chuyển đến Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an tỉnh B để xử lý vi phạm hành chính theo thẩm quyền.
- Đối với: 01 (Một) chiếc cân bằng nhựa là vật chứng liên quan đến vụ án “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý hiếm” do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Bắc Kạn thụ lý, giải quyết nên ngày 22/8/2023, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh B đã chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Bắc Kạn để giải quyết theo thẩm quyền.
- Đối với: 2,107kg (hai phẩy một bảy kilôgam) thuốc phóng NC (Nitroxenlulo) được niêm phong trong hộp catton kí hiệu H1; 09 (chín) vật hình trụ tròn, vỏ kim loại màu vàng bên trong mỗi hạt đều chứa chất bột màu nâu đỏ đều là hạt nổ được đựng trong túi nilon; 01 (một) vỉ hạt (dạng hạt nổ), bọc vỏ giấy có một mặt màu đỏ, trắng và các hạt hình tròn dẹt bọc vỏ giấy màu xám (hoàn trả sau giám định) được niêm phong trong hộp catton kí hiệu H2; hộp nhựa; túi nilon; 02 (hai) thanh kim loại; 04 (bốn) mẩu gỗ; 02 (hai) vỏ kim loại có gắn dây bằng kim loại đựng trong hộp xốp màu trắng ký hiệu A5. Xét thấy cần tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu NOKIA loại bàn phím đã qua sử dụng, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy cần trả lại cho bị cáo; Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo xác định chiếc điện thoại đã cũ không đề nghị lấy lại chiếc điện thoại trên, do vậy cần tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước. Đối với 01 (một) căn cước công dân số [...] mang tên Triệu Quý P do Cục Cảnh sát QLHC về TTXH Bộ C cấp ngày 27/6/2021, xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, cần trả lại cho bị cáo.
- Đối với 01 (một) chiếc cân bằng kim loại; 01 (một) chiếc cân loại đồng hồ; số tiền 24.190.000 đồng tạm giữ của Triệu Quý P. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định là tài sản của vợ bị cáo là bà Phùng Thị N, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, cần trả lại cho bà N.
- Đối với 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 97B1 – 740.58; Có số khung: RLHJF7912HY083032; Số máy: JF79E0116946; Nhãn hiệu xe: HONDA; Loại xe: Hai bánh từ 50-175cm³; Số loại: LEAD; Màu sơn: Xanh nâu; Dung tích xi lanh: 124. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định là tài sản chung của vợ chồng bị cáo, bà Phùng Thị N không viết việc bị cáo sử dụng chiếc xe để tàng trữ trái phép vật liệu nổ. Xét thấy cần tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước ½ giá trị chiếc xe, trả lại cho bà Phùng Thị N ½ giá trị chiếc xe. Đối với 01 (một) Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 041310 của xe mô tô biển kiểm soát 97B1 – 740.58 hiện đang lưu giữ theo hồ sơ vụ án, cần chuyển cho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn để xử lý theo quy định của pháp luật cùng với chiếc xe môtô trên.
[7] Trong vụ án còn có người đàn ông (không rõ lý lịch, địa chỉ cụ thể) theo lời khai của Triệu Quý P là người đã bán trái phép vật liệu nổ cho P vào khoảng năm 2013 tại nhà của P. Tuy nhiên, P không cung cấp được họ tên, địa chỉ, nhân thân, lý lịch của người này nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở để xác minh, làm rõ.
Đối với Phùng Thị N (vợ Triệu Quý P), qua điều tra xác định bà N không biết và không được P nói về việc tàng trữ trái phép vật liệu nổ tại nhà của gia đình nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với bà N là phù hợp.
Đối với hành vi tàng trữ trái phép 01 (một) khẩu súng bắn đạn ghém cỡ 32; 20 (hai mươi) viên đạn là đạn ghém cỡ 32; 19 (mười chín) vỏ đạn của loại đạn ghém cỡ 32; 18 (mười tám) vỏ đạn của loại đạn thể thao cỡ 5,6x15,5mm; 4,56kg (bốn phẩy năm mươi sáu kilôgam) đạn hình nấm; 37,34kg (ba mươi bảy phẩy ba mươi bốn kilôgam) viên bi kim loại. Do chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ cùng tang vật đến Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an tỉnh B để xem xét xử lý hành chính là có căn cứ.
Đối với hành vi nuôi nhốt 16 (mười sáu) cá thể rùa và 02 (hai) cá thể rắn của Triệu Quý P bị phát hiện vào ngày 03/7/2023, hiện đã được các cơ quan tố tụng huyện C, tỉnh Bắc Kạn khởi tố điều tra, truy tố, xét xử trong một vụ án khác.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 305; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS.
- Tuyên bố bị cáo Triệu Quý P phạm tội “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ" Xử phạt bị cáo Triệu Quý P 12 (mười hai) tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 56 BLHS tổng hợp với hình phạt 12 (Mười hai) tháng tù tại Bản án số: 40/2023/HS-ST, ngày 18/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/10/2023 (ngày bị cáo đi chấp hành Bản án số 40/HS-ST ngày 18/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn).
-
Vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 2,107kg (hai phẩy một bảy kilôgam) thuốc phóng NC (Nitroxenlulo) được niêm phong trong hộp catton kí hiệu H1; 09 (chín) vật hình trụ tròn, vỏ kim loại màu vàng bên trong mỗi hạt đều chứa chất bột màu nâu đỏ đều là hạt nổ được đựng trong túi nilon; 01 (một) vỉ hạt (dạng hạt nổ), bọc vỏ giấy có một mặt màu đỏ, trắng và các hạt hình tròn dẹt bọc vỏ giấy màu xám được niêm phong trong hộp catton kí hiệu H2; hộp nhựa; túi nilon; 02 (hai) thanh kim loại; 04 (bốn) mẩu gỗ; 02 (hai) vỏ kim loại có gắn dây bằng kim loại đựng trong hộp xốp màu trắng ký hiệu A5.
- Trả lại cho bị cáo Triệu Quý P 01 (một) căn cước công dân số [...] mang tên Triệu Quý P do Cục Cảnh sát QLHC về TTXH Bộ C cấp ngày 27/6/2021.
- Tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu NOKIA loại bàn phím đã qua sử dụng của bị cáo Triệu Quý P.
- Trả lại cho bà Phùng Thị N 01 (một) chiếc cân bằng kim loại; 01 (một) chiếc cân loại đồng hồ và số tiền 24.190.000₫ (Hai mươi tư triệu một trăm chín mươi nghìn đồng).
- Tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước ½ giá trị chiếc xe mô tô biển số 97B1 – 740.58; Có số khung: RLHJF7912HY083032; Số máy: JF79E0116946; Nhãn hiệu xe: HONDA; Loại xe: Hai bánh từ 50-175cm³; Số loại: LEAD; Màu sơn: Xanh nâu; Dung tích xi lanh: 124 (kèm theo 01 Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 041310 của xe mô tô biển kiểm soát 97B1 – 740.58); Trả lại cho bà Phùng Thị N ½ giá trị của chiếc xe mô tô.
(Tình trạng vật chứng theo như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an tỉnh B và Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn).
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Triệu Quý P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án,tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Quang Huy |
Bản án số 55/2023/HS-ST ngày 22/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN về tàng trữ trái phép vật liệu nổ
- Số bản án: 55/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép vật liệu nổ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Triệu Quý P phạm tội “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ".
