Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 22/7/2024

V/v "Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tính.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Văn Duẩn.

Ông Trần Minh Phương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 43/2023/TLST-HNGĐ ngày 20/12/2023 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 56/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Phú H, sinh năm 1989; HKTT: Khu phố T, Phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; có mặt.

- Bị đơn: Chị Lý Thị T, sinh năm 1990; HKTT: Khu phố T, Phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Hiện trú tại: Singapore; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn anh Nguyễn Phú H trình bày: Anh và chị Lý Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã G, huyện T (nay là phường G, thị xã T) vào ngày 09/6/2018. Sau khi kết hôn thì chị T về chung sống với anh H tại gia đình anh H. Cuộc sống vợ chồng ban đầu hạnh phúc. Khoảng tháng 9 năm 2019 do bất đồng quan điểm sống nên chị T bỏ đi làm tại Hải Dương và sau không trở lại chung sống cùng anh H nữa. Kể từ năm 2020 thì anh H và chị T không còn liên lạc với nhau. Năm 2022, anh H được biết chị T đã đi xuất khẩu lao động tại Singapore. Nay anh H nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị được ly hôn với chị T.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Thanh L, sinh ngày 16/3/2019. Khi ly hôn anh đề nghị được trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Thanh L. Cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ: Vợ chồng không có tài sản chung, công nợ nên không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn là chị Lý Thị Tuyết H đang sinh sống và lao động tại Singapore nên Hội đồng xét xử không tiến hành lấy lời khai được. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành làm việc với bà Nguyễn Thị M là mẹ đẻ của chị T thì được bà trình bày như sau: Hiện nay chị T đang lao động tại Singapore. Bà M đã thông báo lại nội dung văn bản của Tòa án và việc anh H đề nghị ly hôn với chị T và chị T có trình bày lại quan điểm như sau:

Chị T và anh H có nhiều mâu thuẫn trong hôn nhân nên đến nay chị T thấy tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, vợ chồng sống ly thân đã lâu nên đồng ý ly hôn với anh H.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Thanh L, sinh ngày 16/03/2019 và cháu Nguyễn Lý Thanh N, sinh ngày 07/7/2021. Hiện nay cháu L đang sống cùng anh H và cháu N đang do bà Nguyễn Thị M là mẹ đẻ chị T nuôi dưỡng. Nên khi ly hôn chị đề nghị giao cháu L cho anh H chăm sóc nuôi dưỡng và giao cháu N cho chị T chăm sóc nuôi dưỡng.

Tài sản chung, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bà M đồng ý nhận thay các văn bản của Tòa án và cam kết thông báo cho chị T được biết.

Bị đơn hiện đang sinh sống và lao động tại Singapore nên Hội đồng xét xử không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn chị Lý Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng quy định của pháp luật; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa; nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình, chấp hành đúng các quy định của pháp luật.

Về đường lối giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 28, 35, 37, 38, 147, 227, 271, 273, 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Xử cho anh Nguyễn Phú H được ly hôn chị Lý Thị Tuyết. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thanh L, sinh ngày 16/3/2019 cho anh Nguyễn Phú H trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Nguyễn Lý Thanh N, sinh ngày 07/7/2021 cho chị Lý Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng. Cấp dưỡng không xem xét giải quyết.

Tài sản chung và công nợ: Không xem xét giải quyết.

Về án phí: Anh Nguyễn Phú H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Thủ tục tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp: Anh Nguyễn Phú H đề nghị Tòa án xem xét cho anh được ly hôn với chị Lý Thị Tuyết. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thì quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

Về thẩm quyền giải quyết: Theo đơn xin ly hôn của anh Nguyễn Phú H, chị Lý Thị T có hộ khẩu thường trú tại khu phố T, phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; tại thời điểm thụ lý vụ án chị Lý Thị T đang lao động tại Singapore. Tòa án đã tiến hành xác minh thông tin về thời gian xuất nhập cảnh tại Cục Q - Bộ C được biết, chị Lý Thị T đã xuất cảnh lần gần nhất là ngày 18/10/2022 qua cửa khẩu N1 và hiện chưa có thông tin nhập cảnh trở lại Việt Nam. Căn cứ khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

Về việc tham gia tố tụng của các đương sự: Do chị Lý Thị T đang sinh sống và làm việc tại Singapore nên Tòa án đã tiến hành làm việc với bà Nguyễn Thị M là mẹ đẻ của chị T về việc cung cấp địa chỉ cụ thể của chị T tại Singapore nhưng bà M không cung cấp được cho Tòa án. Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị T thông qua bà M và bà M cam kết thông báo lại cho chị T nội dung các văn bản tố tụng. Chị T biết việc anh H khởi kiện xin ly hôn tại Tòa án. Do vậy, cần xác định bị đơn cố tình giấu địa chỉ. Căn cứ căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

[2]. Nội dung vụ án:

[2.1]. Quan hệ hôn nhân: Chị T và anh H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng kí kết hôn ngày 09/6/2018 tại UBND xã G nên đảm bảo mọi điều kiện kết hôn theo luật định. Vì vậy, quan hệ hôn nhân của chị T và anh H là hợp pháp.

Quá trình chung sống, ban đầu vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn. Năm 2022, chị T đi xuất khẩu lao động tại Singapore, vợ chồng sống ly thân. Anh H xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên anh đề nghị Tòa án cho anh được ly hôn chị T.

Do không lấy được lời khai của chị T, nhưng căn cứ vào lời trình bày của bà M là mẹ đẻ của chị T thì biết chị T đã biết việc anh H xin ly hôn. Chị T có trình bày rằng chị đồng ý ly hôn với anh H vì vợ chồng không còn tình cảm với nhau.

Hội đồng xét xử nhận thấy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng chị T anh H là có thực, mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu xin ly hôn của anh H là có căn cứ, đủ điều kiện ly hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh H, xử cho anh Nguyễn Phú H được ly hôn chị Lý Thị Tuyết

[2.2]. Về con chung: Anh H trình bày vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Thanh L, sinh ngày 16/3/2019. Hiện nay cháu đang ở với anh H nên khi ly hôn anh đề nghị giao con chung là cháu Nguyễn Thanh L cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Cấp dưỡng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Thông qua bà M, chị T có trình bày rằng: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Thanh L, sinh ngày 16/3/2019 và cháu Nguyễn Lý Thanh N, sinh ngày 07/7/2021. Hiện nay cháu L đang sống cùng anh H và cháu N đang do bà M chăm sóc. Khi ly hôn chị đề nghị Tòa án xử giao cháu L cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục còn cháu N thì giao cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Tại bản tự khai ngày 23/5/2024 và tại phiên tòa ngày hôm nay anh H trình bày vợ chồng chỉ có 01 con chung là cháu Nguyễn Thanh L, sinh ngày 16/3/2019, cháu Nguyễn Lý Thanh N không phải con chung của anh H và chị T do giữa anh chị không liên lạc và không phát sinh quan hệ vợ chồng kể từ khi chị T rời khỏi gia đình anh H từ tháng 12 năm 2019. Việc cháu N có khai sinh họ tên cha là anh H là do pháp luật có quy định con sinh ra trong thời kì hôn nhân giữa anh H và chị T là con của anh H và chị T. Mặc dù anh H không nhận cháu Nguyễn Lý Thanh N là con chung của hai vợ chồng.

Căn cứ Điều 88 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 thì việc xác định cha, mẹ như sau: “Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng”. Tại giấy khai sinh đăng ký ngày 25/8/2021 do UBND xã G lập cho cháu Nguyễn Lý Thanh N, sinh ngày 07/7/2021. Anh H và chị T đăng ký kết hôn từ ngày 09/6/2018 cho đến nay hôn nhân giữa anh H và chị T vẫn tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp. Do đó, cháu Nguyễn Lý Thanh N được xác định là con chung của vợ chồng và anh Nguyễn Phú H là cha. Việc anh H không xác nhận cháu N là con chung của vợ chồng vì anh cho rằng anh và chị T không có quan hệ vợ chồng nhưng không đưa ra được căn cứ chứng minh. Do vậy, cần xác định vợ chồng anh H, chị T có 02 con chung là cháu Nguyễn Thanh L, sinh ngày 16/3/2019 và cháu Nguyễn Lý Thanh N, sinh ngày 07/7/2021. Hiện nay cháu L đang ở cùng anh H và cháu N đang ở cùng chị T. Anh H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu L, chị T có nguyện vọng được nuôi cháu N và giao cháu L cho anh H chăm sóc. Sau khi xem xét nguyện vọng của các đương sự, tránh gây xáo trộn môi trường sinh hoạt, học tập của các cháu, Hội đồng xét xử thấy cần giao cháu Nguyễn Thanh L cho anh Nguyễn Phú H chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và giao cháu Nguyễn Lý Thanh N cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về việc cấp dưỡng nuôi con Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3]. Về tài sản chung, công nợ chung: Vợ chồng chị T và anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[3]. Về án phí: Anh Nguyễn Phú H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 37, 38, 147, 227, 228, 271, 273, 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Phú H: Anh Nguyễn Phú H được ly hôn chị Lý Thị Tuyết.

Con chung: Giao cháu Nguyễn Thanh L, sinh ngày 16/3/2019 cho anh Nguyễn Phú H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao cháu Nguyễn Lý Thanh N, sinh ngày 07/7/2021 cho chị Lý Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Cấp dưỡng nuôi con không xem xét, giải quyết.

Anh H và chị T có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Tài sản chung và công nợ: Không xem xét, giải quyết.

2. Án phí: Anh Nguyễn Phú H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận anh H đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000051 ngày 18/12/2023 tại Cục thi hành án Dân sự tỉnh Bắc Ninh.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Ninh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Văn Tính

THÀNH VIÊN

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Minh Phương - Mai Văn Duẩn

Nguyễn Văn Tính

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2024/HNGĐ-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 55/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger