Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

THÀNH PHỐ CAM RANH

TỈNH KHÁNH HOÀ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2024/HS-ST
Ngày: 22/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Nga
- Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Lý Xuyên
Ông Đặng Ngọc Hương

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Hữu Xuân Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 29/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 04 năm 2024, quyết định hoãn phiên tòa số: 10/2024/QĐST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 và thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 502/TB-TA ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Mạnh H, sinh ngày 02 tháng 11 năm 1994 tại Khánh Hòa; Nơi cư trú: Thôn T, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Làm nông; Giới tính: nam, Trình độ văn hoá: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: thiên chúa giáo; Con ông: Nguyễn Văn T (chết) và bà: Hoàng Thị H1; Vợ: Võ Nguyễn Thị Minh T1, có 01 người con sinh năm 2019.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

Ông Huỳnh Tấn P, sinh năm 1940, địa chỉ: Tổ dân phố H, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Có mặt tại phiên tòa).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Ông Trần Văn S là Luật sư văn phòng L thuộc đoàn luật sư tỉnh K.

Địa chỉ: A Đ, S, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. (Có mặt tại phiên tòa, vắng mặt khi tuyên án).

* Người làm chứng:

  1. Ông Nguyễn Kết Đ, sinh năm: 1985; nơi cư trú: Xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang. (Vắng mặt tại phiên tòa).
  2. Bà Nguyễn Hoàng N, sinh năm: 1982; nơi cư trú: Xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang. (Vắng mặt tại phiên tòa).
  3. Ông Trần Quốc H2, sinh năm 1988; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Có mặt tại phiên tòa).
  4. Ông Nguyễn Đức C, sinh năm 1969; nơi cư trú: Thôn T, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ông Huỳnh Tấn P, sinh năm 1940 và bà Nguyễn Thị Q có mâu thuẫn với nhau về việc tranh chấp đất đai tại thôn T, xã C, thành phố C.

Nguyễn Đức C là em ruột của bà Nguyễn Thị Q. Nguyễn Mạnh H là người quen biết của Nguyễn Đức C.

Theo bà Q khai nhận: Ông P và bà Q có mối quan hệ sống chung với nhau như vợ chồng. Đến cuối năm 2022 thì bà Q nhờ ông P mua lô đất tại thôn T, xã C, thành phố C, số tiền mua đất là của bà Q nhưng nhờ ông P và Trần Quốc H2 đứng tên người mua đất. Sau đó, bà Q nhiều lần yêu cầu ông P sang tên thửa đất cho bà Q nhưng ông P không đồng ý.

Khoảng 08 giờ ngày 04/4/2023, ông P hẹn bà Q đến Văn phòng Thừa phát lại ở tổ dân phố P, phường C, thành phố C để làm các thủ tục liên quan đến việc giải quyết tranh chấp đất đai. Bà Q đi cùng Nguyễn Mạnh H, Trần Quốc H2 đến Văn phòng Thừa phát lại. Tại Văn phòng Thừa phát lại, ông P không đồng ý ký vào các giấy tờ sang nhượng đất cho bà Q mà bỏ đi. H gọi điện thoại cho Nguyễn Đức C nói cho C biết việc ông P không đồng ý ký vào các giấy tờ thoả thuận mà bỏ đi. C nói H đến rẫy đang tranh chấp tìm ông P nói ông P quay trở lại Văn phòng Thừa phát lại để làm các thủ tục liên quan đến việc giải quyết tranh chấp đất, nếu ông P không quay lại thì dằn mặt. Theo C khai nhận ý thức chủ quan của C là nói H nói chuyện gay gắt để yêu cầu ông P quay trở lại Văn phòng Thừa phát lại.

H điều khiển xe mô tô đến rẫy ở thôn T, xã C, thành phố C tìm ông P. Tại đây, H gặp bà Nguyễn Hoàng N và ông Nguyễn Kết Đ là người trông rẫy. H nhờ Đ gọi điện thoại cho ông P nói đến rẫy giải quyết công việc.

Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, ông P điều khiển xe mô tô 79U2-5316 đến rẫy, nói chuyện với bà N, ông Đ. Lúc này, H dắt xe mô tô của ông P để bên cạnh trụ cổng rồi dùng dây xích buộc cổng lại. H đi đến chỗ ông P để nói chuyện thì xảy ra kình cãi. Thấy ông P dùng tay nắm đấm lại lao về phía mình nên H dùng tay đấm vào mặt ông P gây thương tích.

Ngày 12/4/2023, ông Huỳnh Tấn P có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 495/23/KLTTCT - PYKH ngày 16/6/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh K kết luận: 01 sẹo kích thước nhỏ vùng gò má trái, tỷ lệ thương tật: 03%. Tỷ lệ % tổn thương cơ thể của Huỳnh Tấn P tại thời điểm giám định là: 03% (Ba phần trăm), cơ chế: ngoại lực tác động, vật tác động: vật tày.

Bản cáo trạng 16/CT-VKSCR-HS ngày 22 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh đã truy tố bị cáo Nguyễn Mạnh H về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh giữ nguyên Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh H phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Mạnh H;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh H mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù,

Vật chứng vụ án: Không.

Phần dân sự: Bị cáo Nguyễn Mạnh H đã bồi thường cho bị hại Huỳnh Tấn P 20.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu bồi thường thêm nên không xét.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trình bày: Cơ bản thống nhất với nội dung bản luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị áp dụng thêm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội đối với người già đối với bị cáo. Bị cáo không thành khẩn khai báo vì các lời khai trước đây đều khai Nguyễn Đức C chỉ đạo bị cáo đánh dằn mặt bị hại.

Bị hại đề nghị xem xét vai trò đồng phạm Nguyễn Đức C, Trần Quốc H2 với Nguyễn Mạnh H để tránh bỏ lọt tội phạm.

Đại diện Viện kiểm sát đối đáp:

- Đã áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

- Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát đã xem xét các tình tiết vụ án, hồ sơ đã thể hiện rõ các tình tiết vụ án, không có chứng cứ để xem xét vai trò Nguyễn Đức C, Trần Quốc H2 đồng phạm với Nguyễn Mạnh H.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, tại lời nói sau cùng bị cáo Nguyễn Mạnh H đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt người làm chứng không có lý do. Xét thấy, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện đúng như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa nên có cơ sở để kết luận:

Khoảng 10 giờ ngày 04/4/2023, tại khu vực rẫy ở thôn T, xã C, thành phố C; Nguyễn Mạnh H là người không có mâu thuẫn với ông Huỳnh Tấn P nhưng có hành vi dùng tay đánh vào mặt ông P gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 03%. Ông P yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Mạnh H đủ cơ sở cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát và kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa truy tố bị cáo Nguyễn Mạnh H theo đúng tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Đối với Nguyễn Đức C, Tòa án cũng đã trả hồ sơ điều tra bổ sung để làm rõ vai trò của C trong vụ án và Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung cáo trạng không đủ cơ sở xem xét vai trò đồng phạm của C.

[4] Xét tính chất mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:

[5.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Mạnh H phạm tội đối với người đủ 70 tuổi trở lên nên áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Mạnh H khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại Huỳnh Tấn P 20.000.000 đồng, bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do bị cáo có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 trở lên nên áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 để xử dưới khung hình phạt đối với bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm, phấn đấu cải tạo tốt.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Mạnh H đã bồi thường cho bị hại Huỳnh Tấn P 20.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu bồi thường thêm nên không xét.

[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Mạnh H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ vào:

  • Điểm i khoản 1 Điều 134, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 54 Bộ luật hình sự;
  • Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh H 04 (Bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Mạnh H đã bồi thường cho bị hại Huỳnh Tấn P 20.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu bồi thường thêm nên không xét.

3. Về án phí:

Bị cáo Nguyễn Mạnh H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Tp.Cam Ranh;
  • - Công an Tp.Cam Ranh;
  • - Chi Cục THADS Tp. Cam Ranh;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thúy Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA về hình sự - cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 55/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Mạnh H - CYGTT
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger