|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC Số: 55/2024/HS-ST Ngày: 22-4-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc The People's Court of Dong Xoai City, Binh Phuoc Province, held a public preliminary hearing for the criminal case filed under file number: 11/2024/HSST dated January 15, 2024, pursuant to Decision to Bring the Case to Trial number: 59/2024/QĐST- HS dated April 05, 2024, against the following defendants:
Người làm chứng:
Tại phiên toà sơ thẩm: Các bị cáo có mặt, những người làm chứng vắng mặt. NỘI DUNG VỤ ÁN: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 16 giờ ngày 27/09/2023 Nguyễn Minh H1 và Ngô Minh P1 đang ở phòng trọ, tại nhà trọ không tên thuộc khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước thì Nguyễn Trí M2, Lương Thị T3 đến chơi . Đến 15 giờ 30 phút ngày 28/09/2023, Nguyễn Thị Bích L gọi điện thoại cho H1 nhờ H1 mua hộ 800.000đồng tiền ma tuý đá thì H1 đồng ý, L chuyển khoản 800.000đồng từ tài khoản của L sang số tài khoản 7190261 ngân hàng A của H1. Sau khi nhận được tiền, H1 không biết chỗ mua ma tuý nên nhờ T3 mua hộ 800.000 đồng tiền ma tuý đá cho L thì T3 đồng ý, H1 đi ra quán tạp hoá gần phòng trọ chuyển 800.000đồng cho có số tài khoản ngân hàng M3:19826663366666 mang tên Nguyễn Duy T6 lấy 790.000đồng tiền mặt, trả cho T6 10.000đồng tiền phí đổi tiền, rồi H1 đưa 790.000 đồng cho T3, T3 nhờ một người tên V (không rõ nhân thân, lai lịch) là bạn của T3 chở T3 đi đến phòng trọ của Trần Văn K1 tại khu phố P, phường T, thành phố Đ, trên đường đi T3 sử dụng 130.000đồng để đổ xăng. và mua đồ ăn nên còn lại 660.000đồng, khi chở T3 đến nhà K1 thì V bỏ đi, T3 đi vào phòng trọ gặp K1 và Mai Thị C1, T3 nhờ K1 mua giùm T3 660.000đồng tiền ma túy đá thì K1 đồng ý. K1 nhắn tin qua Z cho Phan Tấn L2, hỏi mua ma túy giùm cho T3, thì L2 đồng ý. Đến 18 giờ cùng ngày, L2 điều khiển xe môtô nhãn hiệu Dream, biển số 93F8 - 0628 đi đến phòng trọ của K1 gặp T3, T3 đưa cho L2 660.000đồng, L2 nói T3 đi theo L2 để nhận ma túy thì T3 đồng ý, L2 điều khiển xe đi trước dẫn đường, T3 không có xe nên nhờ C1 điều khiển xe môtô nhãn hiệu Click, biển số 93M1 - 021.47 chở T3 đi theo L2, khi đi đến khu vực đất trống ở phía sau nhà nghỉ “A" thuộc phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước thì L2 dừng lại nói T3 đứng chờ để L2 đi lấy ma túy, L2 điều khiển xe đến đoạn đường Lê Hồng P3 gặp T7 (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 660.000đồng ma túy đá, T7 nhận tiền và đưa lại cho L2 01 bọc nylon chứa ma túy đá. L2 cầm lấy và quay lại đưa bọc nylon chứa ma túy đá cho T3 còn C1 đang gục đầu vào yên xe ngủ. L2 và C1 đổi xe cho nhau, L2 điều khiển xe môtô nhãn hiệu Click, biển số 93M1 - 021.47 của C1 bỏ đi, T3 cầm bọc ma túy vừa mua được trong lòng bàn tay trái sau đó điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Dream, biển số 93F8 - 0628 của L2 chở C1 đi đến phòng trọ của H1 để đưa ma túy cho H1 để H1 đưa cho L. Sau khi T3 đi có Phạm Ngọc T5, điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda Airblade, màu đen, biển số: 93P2-870.47 đến phòng H1 chơi. H1 nói P1 đi lấy tiền nợ cho H1 ở chỗ H6 (không rõ nhân thân, lai lịch) trước nhà trọ M4 thuộc khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước thì P1 đồng ý. H1 nhờ T5 điều khiển xe mô tô biển số: 93P2-870.47 chở P1 đi. Đến nơi, T5 dừng xe ở ngoài P1 đi bộ vào trong gặp H6, H6 nói tiền chưa có trả sau rồi đưa cho P1 01 bọc nylon chứa ma túy nói cho H1 sử dụng, P1 cầm lấy ma túy bỏ vào túi quần trước bên phải đang mặc, T5 điều khiển xe chở P1 đi về phòng trọ của H1. Khi P1 và T5 về đến phòng trọ của H1 thì Trần Quốc B điều khiển xe môtô nhãn hiệu SYM Angel, màu xanh, biển số: 93F5-4504 chở L vừa đến hỏi H1 lấy ma túy L nhờ H1 mua giúp, H1 nói T3 đi mua hộ đang về, L và B vào phòng ngồi chơi chờ T3. Lúc này P1 đưa 01 bọc ma tuý đá cho H1 nói H6 không có tiền, nên đưa cho H1 01 bọc ma tuý đá về sử dụng trước còn tiền trả sau, H1 nói P1 đổ ma túy vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế để sử dụng. Khi P1 vừa đổ hết ma tuý đá vào nỏ thuỷ tinh thì T3 đến, khi T3 cầm gói ma túy đá định đưa cho L, thì Bị Lực lượng Công an thành phố Đ kiểm tra hành chính, T3 chạy vào trong nhà vệ sinh ném 01 gói nylon vào bồn cầu thì bị Cơ quan Công an phát hiện, thu giữ trên nắp bồn cầu vệ sinh có 01 gói nylon hàn kín mép bên trong chứa tinh thể màu trắng. Tiếp tục kiểm tra Lực lượng Công an phát hiện bên trong nỏ thủy tinh bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế đang để trên nền phòng gần chỗ P1 đang ngồi có tinh thể màu trắng, P1 khai nhận chất tinh thể màu trắng là ma túy đá của H6 cho H1 để sử dụng thì bị Công an bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Minh H1, Lương Thị T3, Ngô Minh P1, Nguyễn Thị Bích L và thu giữ tang vật. Đến 04 giờ 00 ngày 29/9/2023, Trần Văn K1 dến Công an thành phố Đ đầu thú. Đến 07 giờ ngày 29/9/2023, Phan Tấn L2 đến Công an thành phố Đ đầu thú. Tại Kết luận giám định số 995/KL-KTHS ngày 05/10/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận: Tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) bên trong 01 ống thủy tinh uốn cong được niêm phong trong phong bì, dán kín là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng là: 0,1598 gram. Tinh thể màu trắng (ký hiệu M2) bên trong 01 gói nylon hàn kín được niêm phong trong phong bì, dán kín là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng là: 0,7899 gram. Tổng khối lượng 0,9497 gram. Vật chứng thu giữ trong vụ án: Bắt quả tang thu giữ: 01 nỏ thủy tinh bên trong nỏ thủy tinh chứa tinh thể màu trắng, 01 gói nylon hàn kín các mép, kích thước (4,0 x 3,0)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng, 01 chai nhựa; 01 đoạn ống hút màu đen; 01 quẹt ga màu đỏ; 01 ĐTDĐ hiệu HUAWEI màu xanh của Ngô Minh P1; 01 ĐTDĐ hiệu IPhone màu đen của Nguyễn Minh H1; 01 ĐTDĐ hiệu Redmi màu đen của Nguyễn Thị Bích L; 01 xe môtô nhãn hiệu Dream, biển số 93F8-0628; 01 xe máy hiệu SYM Angel, biển số 93 F5-4504. Tạm giữ khi Trần Văn K1 ra đầu thú: 01 điện thoại di động hiệu samsung màu vàng. Tạm giữ khi Phan Tấn L2 ra đầu thú: 01 xe mô tô hiệu Honda Click, màu đỏ, biển số 93M1-012.47, số tiền 1.000.000đồng, 01 điện thoại di động hiệu samsung màu trắng, Ngày 29/09/2023, Nguyễn Đình D giao nộp: 01 điện thoại di động hiệu oppo A15, màu xanh đen của Phan Tấn L2 cầm cố. Ngày 02/11/2023 Nguyễn Duy T6 giao nộp 10.000đồng. Việc xử lý vật chứng: Ngày 14/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ xử lý vật chứng, trả lại cho Đoàn Thị Á 01 xe mô tô hiệu SYM Angel, biển số 93F5-4504; Cho Đoàn Thị L1 01 xe mô tô hiệu Honda Click, biển số 93M1-021.47; Cho Huỳnh Thị H5 01 xe mô tô hiệu Honda Dream, biển số 93F8-0628. Bản Cáo trạng số: 22/Ctr - VKS ngày 12/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước truy tố: Các bị cáo Nguyễn Thị Bích L, Nguyễn Minh H1, Ngô Minh P1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Các bị cáo Lương Thị T3, Trần Văn K1, Phan Tấn L2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; Tại phiên toà sơ thẩm: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài phát biểu: Quá trình điều tra vụ án, cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo K1, L2 sau khi phạm tội đầu thú. Qua nội dung xét hỏi tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài xét thấy bị cáo H1, T3 thống nhất trình bày việc bị cáo T3 đi mua ma túy là do H1 nhờ mua cho L để L sử dụng, T3 không có mục đích hưởng lợi từ việc mua ma túy từ trước, trên đường đi đến phòng trọ của K1 nhờ K1 mua ma túy do xe hết xăng và đói bụng, không có tiền nên T3 sử dụng 130.000đồng tiền H1 đưa để mua ma túy vào việc đổ xăng và mua đồ ăn, việc hưởng lợi là tự phát, có sau khi đồng ý mua ma túy hộ cho L để L sử dụng nên căn cứ Điều 319 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015luận Lương Thị T3, Trần Văn K1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và để nghị Hội đồng xét xử xét xử các bị cáo Lương Thị T3, Trần Văn K1 theo nội dung truy tố, kết luận tại phiên tòa, cụ thể như sau: Bản Cáo trạng số: 22/Ctr - VKS ngày 12/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước truy tố: Các bị cáo Lương Thị T3, Trần Văn K1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; Được thay đổi, kết luận truy tố thành: Các bị cáo Lương Thị T3, Trần Văn K1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Còn các bị cáo khác giữ nguyên kết luận truy tố theo nội dung bản cáo trạng số 22/Ctr - VKS ngày 12/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị Bích L, Nguyễn Minh H1, Ngô Minh P1, Lương Thị T3, Trần Văn K1 phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo Phan Tấn L2 phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy”. Căn cứ: Điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điểm s khoản 1 Điều 51; Các Điều 17; 38; 50; 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Bích Liên t 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Xử phạt: Bị cáo Ngô Minh P1 từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Căn cứ: Điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17; 38; 50; 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh H1 từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Xử phạt: Bị cáo Lương Thị T3 từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Xử phạt: Bị cáo Trần Văn K1 từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Căn cứ: Khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h, khoản 1 Điều 52; Các Điều 38; 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 Xử phạt: Bị cáo Phan Tấn L2 từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài còn đề nghị xử lý vật chứng và các vấn đề khác của vụ án Tại phiên toà sơ thẩm toàn bộ các bị cáo trong vụ án thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước đã truy tố. Việc xét xử các bị cáo là đúng, các bị cáo không kêu oan và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, các bị cáo ăn năn, hối cải. Kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để có cơ hội được sửa chữa lỗi lầm, sớm ngày hoà nhập với cuộc sông. Các bị cáo Lương Thị T3, Trần Văn K1 không có ý kiến gì về việc thay đổi quyết định truy tố của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài. NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ: Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của các bị cáo, người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: [1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp. [2]. Tại phiên tòa, những người làm chứng vắng mặt tại phiên toà. Xét thấy, việc vắng mặt của những người làm chứng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên căn cứ vào Điều 293 Bộ luật tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án. [3]. Tại phiên toà đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài thay đổi nội dung quyết định của bản cáo trạng số: 22/Ctr - VKS ngày 12/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước và đề nghị Hội đồng xét xử xét xử các bị cáo theo nội dung đã được thay đổi, cụ thể như sau: Bản Cáo trạng số: 22/Ctr - VKS ngày 12/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước truy tố: Các bị cáo Lương Thị T3, Trần Văn K1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; Được thay đổi thành: Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước truy tố: Các bị cáo Lương Thị T3, Trần Văn K1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Xét thấy, việc thay nội dung quyết định bản cáo trạng của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài không làm xấu đi tình trạng của bị cáo, đúng quy định pháp luật. Mặt khác, các bị cáo trong vụ án không có ý kiến hay khiếu nại về việc thay đổi nêu trên. Vì vậy, Hội đồng xét xử các bị cáo theo nội dung thay đổi quyết định truy tố mà đại diện Viện kiểm sát đã kết luận tại phiên toà. [4]. Về hành vi phạm tội, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, các bị cáo trong vụ án thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp nội dung bản cáo trạng đã truy tố các bị cáo, phù hợp về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, đồng thời phù hợp với biên bản phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xét hỏi công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định hành vi phạm tội của các bị cáo cụ thể như sau: Ngày 28/9/2023 bị cáo Nguyễn Thị Bích L chuyển khoản, nhờ bị cáo Nguyễn Minh H1 mua giúp 800.000đồng ma túy với mục đích để sử dụng. H1 nhận lời mua giúp ma tuý cho L và nhờ bị cáo Lương Thị T3 tìm mua ma tuý cho L, H1 đưa T3 số tiền 790.000đồng (còn 10.000đồng trả phí đổi tiền cho Nguyễn Duy T6. T3 nhận 790.000đồng từ H1 và đồng ý đi mua ma tuý cho L. Trên đường đi mua ma tuý, T3 sử dụng 130.000đồng đổ xăng và mua đồ ăn, còn 660.000đồng nhờ bị cáo Trần Văn K1 liên hệ mua ma túy. K1 nhắn tin cho bị cáo Phan Tấn L2 hỏi mua ma túy cho T3 thì L2 đồng ý bán ma tuý. L2 mua ma túy của đối tượng tên T7 (không rõ nhân thân, lai lịch) và bán lại cho T3 lấy 660.000đồng. T3 nhận ma túy đem về phòng trọ của H1 tại khu phố P, phường T, thành phố Đ để đưa cho H1 thì bị lực lượng Công an bắt quả tang, thu giữ 0,7899 gram ma túy loại Methamphetamine. Ngoài ra cùng ngày, đối tượng H6 (không rõ nhân thân, lai lịch) đưa cho bị cáo Ngô Minh P1 01 bọc nylon chứa ma túy đá để cho P1 mang ma tuý về phòng trọ cho H1 sử dụng. Các bị cáo H1, P1 chuẩn bị sử dụng ma tuý thì bị lực lượng Công an phát hiện thu giữ 0,1598 gram ma túy loại Methamphetamine. Căn cứ hành vi phạm tội của các bị cáo trong vụ án đã thực hiện và kết luận giám định của Phòng K2 Công an tỉnh B. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 28/9/2023 bị cáo Nguyễn Thị Bích L nhờ bị cáo Nguyễn Minh H1 ma túy với mục đích để sử dụng. Các bị cáo Nguyễn Minh H1, Lương Thị T3, Trần Văn K1 có hành vi giúp sức tích cực để bị cáo L có thể mua được 0,7899 gram ma túy loại Methamphetamine với mục đích sử dụng. Ngoài ra bị cáo H1 và bị cáo Ngô Minh P1 còn có hành vi cất giấu, tàng trữ 0,1598 gram ma túy loại Methamphetamine để sử dụng. Vì vậy, hành vi của các bị cáo Nguyễn Thị Bích L, Nguyễn Minh H1, Lương Thị T3, Trần Văn K1, Ngô Minh P1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo Phan Tấn L2 có hành vi mua và bán lại 0,7899 gram ma túy loại Methamphetamine cho T3 nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và “Mua bán trái phép chất ma túy”. Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy 1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý. Việc tàng trữ, mua bán trái phép chất ma tuý còn có thể là nguyên nhân dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, đồng thời gây mất an ninh trật tự địa phương. Các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp; Các bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật, đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Các bị cáo nhận thức được việc tàng trữ và mua bán trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm. Song do thỏa mãn nhu cầu cá nhân, các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội điều đó thể hiện sự xem thường pháp luật của các bị cáo. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo cần phải xử phạt các bị cáo mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo. Các bị cáo đều là đối tượng sử dụng ma tuý nên cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để có thể cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành những công dân tốt cho xã hội và cũng để giáo dục, phòng ngừa chung, đồng thời giúp các bị cáo có cơ hội đoạn tuyệt với ma tuý. Quyết định truy tố Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước truy tố các bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và “Mua bán trái phép chất ma túy” là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. [5]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 18/05/2017, Bị cáo Phan Tấn L2 đã bị Tòa án nhân dân Quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 07 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo bản án 164/2017/HSS. Bị cáo chưa được xoá án tích nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Ngoài ra, năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang đã xét xử và xử phạt đối với bị cáo. Bị cáo Trần Văn K1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật nhưng bị cáo là người có nhân thân xâu khi năm 2013, Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận đã xét xử và xử phạt xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” đối với bị cáo. Bị cáo H1 phạm tội khi đang có 01 tiền sự. Các bị cáo khác trong vụ án không có tình tiết tăng nặng trách nhiện hình sự. [6]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo H1 và T3 có con còn nhỏ. Bị cáo K1, L2 sau khi phạm tôi đã ra đầu thú. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 sẽ được Hội đồng xét xử xem xét cho từng bị cáo khi lượng hình. [7]. Phân hóa vai trò tội phạm: Đây là vụ án đồng phạm. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 để xem xét vai trò phạm tội của từng bị cáo trong vụ án nhằm đưa ra mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của từng bị cáo, cụ thể: Bị cáo L là người khởi xướng, nhờ bị cáo khác mua ma tuý để sử dụng nên phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo khác. Bị cáo H1 có hành vi giúp sức tích cực với mục đích mua ma tuý về cho L sử dụng, ngoài ra còn tàng trữ ma tuý với bị cáo P1 nên chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi của mình. Các bị cáo T3, K1, P1 có hành vi giúp sức tích cực với mục đích có ma tuý cho L và H1 sử dụng nên phải chịu trách nhiệm hình sự tương tứng với mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội của mình. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt dành cho các bị cáo là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy các bị cáo là người không có chức vụ, việc làm, thu nhập ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là đối với các bị cáo. [8]. Về các biện pháp tư pháp: Việc xử lý vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ đã xử lý một số vật chứng của vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét lại đối với các vật chứng đã được xử lý. Việc xử lý vật chứng còn lại của vụ án: 02 bì thư số 995M1; 995M2 ngày 29/9/2023 niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng K2 Công an tỉnh B; 01 chai nhựa; 01 đoạn ống hút màu đen; 01 quẹt ga màu đỏ là công cụ, vật chứng các bị cáo dùng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ. 01 ĐTDĐ hiệu HUAWEI màu xanh của Ngô Minh P1; 01 ĐTDĐ hiệu IPhone màu đen của Nguyễn Minh H1; 01 ĐTDĐ hiệu Redmi màu đen của Nguyễn Thị Bích L; 01 điện thoại di động hiệu samsung màu vàng của Trần Văn K1, 01 điện thoại di động hiệu samsung màu trăng và 01 điện thoại di động hiệu oppo A15, màu xanh đen của Phan Tấn L2, số tiền 10.000đồng là công cụ, vật chứng các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên thu sung thu sung Ngân sách Nhà nước. Số tiền 1.000.000đồng không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo L2. [9]. Các vấn đề khác của vụ án: Đối với đối tượng T7 – Người bán ma tuý cho bị cáo L2, đối tượng H6 đối tượng đưa ma tuý cho P1: Quá trình trình điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này và kiến nghị Cơ quan Công an thành phố Đ tiếp tục xác minh, điều tra đối với những đối tượng nên trên để xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật. Đối với những đối tượng Phạm Ngọc T5,Trần Quốc B, Mai Thị C1, Nguyễn Trí M2, Nguyễn Duy T6, ông Ngô Chí C3 quá trình điều tra xác định không liên quan, không biết về các hành vi phạm tội của các bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này. [10]. Về án phí hình sự sơ thẩm sơ thẩm: Các bị cáo trong vụ án, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng. Vì các lẽ trên; QUYẾT ĐỊNH: 1. Về tội danh: Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị Bích L, Nguyễn Minh H1, Ngô Minh P1, Lương Thị T3, Trần Văn K1 phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo Phan Tấn L2 phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy”. 2. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt: 2.1 Căn cứ: Điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 17; 38; 50; 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Bích L 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/9/2023. 2.2 Căn cứ: Điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17; 38; 50; 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh H1 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/9/2023. 2.3 Căn cứ: Điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Các Điều 17; 38; 50; 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Lương Thị T3 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/9/2023. 2.4 Căn cứ: Điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Các Điều 17; 38; 50; 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Trần Văn K1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/9/2023. 2.5 Căn cứ: Điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điểm s khoản 1 Điều 51; Các Điều 17; 38; 50; 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Ngô Minh P1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/9/2023. 2.6 Căn cứ: Khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h, khoản 1 Điều 52; các Điều 38; 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Phan Tấn L2 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/9/2023. 3. Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ: Điều 46; Điều 47; Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015. Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: 01 ĐTDĐ hiệu HUAWEI màu xanh của Ngô Minh P1; 01 ĐTDĐ hiệu IPhone màu đen của Nguyễn Minh H1; 01 ĐTDĐ hiệu Redmi màu đen của Nguyễn Thị Bích L; 01 điện thoại di động hiệu samsung màu vàng của Trần Văn K1, 01 điện thoại di động hiệu samsung màu trăng và 01 điện thoại di động hiệu oppo A15, màu xanh đen của Phan Tấn L2, số tiền 10.000đồng. Tịch thu tiêu huỷ: 02 bì thư số 995M1; 995M2 ngày 29/9/2023 niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng K2 Công an tỉnh B; 01 chai nhựa; 01 đoạn ống hút màu đen; 01 quẹt ga màu đỏ. Trả lại bị cáo Phan Tấn L2: Số tiền 1.000.000đồng (Một triệu đồng) (Các vật chứng được giao theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0002209 ngày 12/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài và uỷ nhiệm chi vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài qua kho bạc Nhà nước vào ngày 19/01/2024). 4. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng: Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo trong vụ án, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. 5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo trong vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Bản án liên quan
THÔNG TIN BẢN ÁN
Bản án số 55/2024/HS-ST ngày 22/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự: tàng trữ trái phép chất ma tuý và mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
|
