|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 55/2024/HS-ST Ngày 21 - 6 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhi
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Tô Thị Hương – Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ xã Tây Giang, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
- Ông Phạm Mã Siêu - Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã Nam Hải, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Trung Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 46/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Phạm Văn K, sinh năm 1959
Nơi cư trú: Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 06/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T (đã chết) và bà Trần Thị S (đã chết); Vợ: Trần Thị T1 (nạn nhân chết trong vụ án); Con: Có 03 con, con lớn sinh năm 1987, con nhỏ sinh năm 1997; tiền sự: Không; tiền án: Không.
Nhân thân: Bị cáo có thời gian tham gia chiến tranh bảo vệ tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế sau ngày 30/4/1975, bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú “Có mặt tại phiên tòa”
- Trương Văn Đ, sinh năm 1999
Nơi cư trú: Thôn N, xã M, thị xã K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn Đ1 và bà Vũ Thị N; Vợ: Chưa có; Con: Chưa có; tiền sự: Không; tiền án: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú “Có mặt tại phiên tòa”.
☐ Người bị hại: Bà Trần Thị T1, sinh năm 1961 (đã chết).
- Người đại diện hợp pháp của người bị hại:
- + Ông Phạm Văn K, sinh năm 1959 (chồng bà T1 và là bị cáo). Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình.
- + Chị Phạm Thị X, sinh năm 1987 (Con gái bà T1) Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình.
- + Chị Phạm Thị Lệ T2, sinh năm 1989 (Con gái bà T1). Địa chỉ: Xóm A, vụ Nữ H, huyện V, tỉnh Nam Định.
- + Chị Phạm Thị Hà L, sinh năm 1996 (Con gái bà T1) Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình.
- Người đại diện theo ủy quyền của chị X, chị T2 và chị L là: Ông Phạm Văn K, sinh năm 1959.
Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình.
- Người làm chứng:
- + Ông Vũ Văn N1, sinh năm 1967. Địa chỉ: Thôn P, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình.
- + Ông Vũ Văn H, sinh năm 1964.
- + Ông Trần Văn L1, sinh năm 1964.
Cùng địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình.
- + Ông Trương Văn Đ1, sinh năm 1975.
- + Anh Trương Văn S1, sinh năm 1997.
Cùng địa chỉ: Thôn N, xã M, thị xã K, tỉnh Hải Dương.
(Tại phiên tòa ông K có mặt, chị X, chị T2, chị L và tất cả những người làm chứng đều vắng mặt )
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ ngày 29/12/2023, anh Trương Văn Đ1 điều khiển tàu số hiệu VP-0773 chở cát từ tỉnh Nam Định đến sông dưới chân cầu C, xã N để tập kết vào bến bãi vật liệu của ông Vũ Văn H (bãi cách hộ lan đường giao thông 1-2 m). Đi cùng tàu với anh Đ1 có Trương Văn Đ (con anh Đ1) và anh Trương Văn S1. Đ là người trực tiếp điều khiển tàu đến nơi tập kết cát, Trương Văn S1 vận hành máy dưới tàu, Đ đứng trên bãi cầm vòi điều chỉnh để cát bơm từ tàu lên đảm bảo đúng vị trí bãi tập kết. Khoảng 05 giờ khi Đ đang cầm vòi bơm cát thấy lạnh chân nên để vòi bơm cát xuống bãi và đi lấy ủng cách đó khoảng 50m để đi, lúc này khu vực cát bơm vào bãi đầy do không có người điều chỉnh vòi bơm nên cát tràn khoảng 2m³ ra mặt đường đoạn Km 15 + 00 đường ĐT462 hết chiều rộng 6m của mặt đường, trải dài khoảng 10,9m, vị trí cát cao nhất so với mặt đường 0,3m. Khi Đ quay lại phát hiện cát tràn ra mặt đường giao thông nhưng Đ không thực hiện biện pháp cảnh báo chướng ngại vật trên đường và không đặt cảnh báo an toàn ở hai đầu dải cát và khu vực trên. Khoảng 05 giờ 30 ông Vũ Văn N1 điều khiển xe mô tô đi từ hướng C - N đi đến địa điểm trên đâm vào gờ cát tràn ra đường làm ông N1 và xe ngã văng về phía trước. Đ và S1 đi lên đỡ ông N1 dậy thấy ông N1 không bị thương tích nên cả hai đi xuống tàu. Tiếp theo khoảng 15 phút sau ông Phạm Văn K (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha màu đỏ đen biển kiểm soát 17B1-882.36 chở vợ là bà Trần Thị T1 sinh năm 1961 đi hướng cầu C - N đến, ông K không chú ý quan sát, không giảm tốc độ nên đã đâm vào gờ cát trên khiến ông K, bà T1 và phương tiện đổ, ngã văng về phía trước. Hậu quả bà T1 bị chấn thương sọ não chết trên đường đi cấp cứu..
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1913 /KLGĐTT-KTHS ngày 12/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: nguyên nhân chết của bà Trần Thị T1 do chấn thương sọ não và đa chấn thương.
Tại bản cáo trạng số 54/CT-VKSTH ngày 09/5/2024 của VKSND huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Phạm Văn K về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 điều 260 Bộ luật hình sự và truy tố bị cáo Trương Văn Đ về tội "Cản trở giao thông đường bộ" quy định tại điểm a khoản 1 Điều 261 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn K phạm tội: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, bị cáo Trương Văn Đ phạm tội: Cản trở giao thông đường bộ
- - Về hình phạt: + Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50, Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phạm Văn K từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- + Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 261; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50, Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trương Văn Đ 09 (Chín) tháng đến 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- · Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra gia đình bị cáo Trương Văn Đ đã thoả thuận bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền là 80.000.000 đồng, bị cáo Phạm Văn K đã tự mình chi phí mai táng cho bị hại đến nay không ai có yêu cầu, đề nghị gì thêm nên không đặt ra giải quyết.
- Và đề xuất các vấn đề khác liên quan đến việc giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, không ai tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà các bị cáo Phạm Văn K và Trương Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra cũng như trong giai đoạn truy tố và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ cụ thể như.
- - Sơ đồ hiện trường và biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường vụ tai nạn giao thông do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T lập ngày 29/12/2023;
- + Xe mô tô biển số 17B1-882.36 nằm đổ nghiêng trái trên mặt đường, đầu xe quay hướng Tây bắc, đuôi xe quay hướng Đông nam, trục bánh xe trước quay vào mép đường phải là 2m55; trục bánh xe sau đo vào mép đường phải là 3m20 và đo thắng đến cột km15+00 đường Đ là 3m90
- + Vết cày không liên tục nằm trên mặt đường vết có hướng Đông nam -T dài 10m70. Đầu vết đo vào mép đường phải là 3m15; cuối vết đo vào mép đường phải là 3m25; cuối vết đo đến trục sau xe mô tô ký hiệu 1 là 0m25
- + Đám cát nằm trên mặt đường độ dày và cao giảm dần theo hướng Đông nam - T, đám cát có độ rộng 6m00; bờ bên phải dài 10m50, bờ bên trái dài 10m90, cao 0m30. Vị trí kết thúc đám cát đo đến trục sau xe mô tô ký hiệu 1 là 9m30
- + Đám máu nằm trên mặt đường, đo 0m60x0m40; tâm máu đo vào mép đường phải là 2m30, đo vào trục bánh xe trước của xe một ô ký hiệu 1 là 1m60
Hiện trường xảy ra tai nạn là đoạn đường Km 15 +00 đường ĐT462 mặt đường trải đá apphan. Lòng đường rộng 06m, trên mặt đường có vạch phân chia hai chiều xe chạy. Lề đường phải, trái rộng 0m50 có lắp dặt thanh hộ lan bằng kim loại, tiếp giáp lề đường phải là bãi vật liệu xây dựng của ông Vũ Văn H; lề đường trái rộng 0m50, tiếp giáp là đầm nuôi trồng thủy sản và sông C; tại bãi vật liệu dọc theo bên trong lề đường bên phải ra đến bờ sông cầu A C-N có các đoạn ống tròn bằng nhựa dẻo dùng để dẫn cát từ tàu vào bãi vật liệu. Khu vực xảy ra tại nạn không có dân cư sinh sống, đèn chiếu sáng công cộng, đèn báo hiệu giao thông, biển cảnh báo giao thông.
- Biên bản khám nghiệm phương tiện và Bản ảnh khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T lập ngày 30/12/2023 tại Công an huyện T.
- Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1913/KLGĐTT-KTHS ngày 12/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: nguyên nhân chết của bà Trần Thị T1 do chấn thương sọ não và đa chấn thương.
- Lời khai người liên quan anh Trương Văn S1, sinh năm 1997 ông Trương Văn Đ1 sinh năm 1975 đều trú thôn N, xã M, T, tỉnh Hải Dương.
- Lời khai của những người làm chứng là ông Vũ Văn N1 sinh năm 1967 trú thôn P, xã N, huyện T; ông Vũ Văn H sinh năm 1964; ông Trần Văn L1 sinh năm 1964 đều trú thôn H, xã N, huyện T; ông Phạm Văn M sinh năm 1979 trú thôn L, xã T, huyện T;
- Lời khai của người đại diện hợp pháp người bị hại là ông Phạm Văn Kháng s năm 1959, chị Phạm Thị X sinh năm 1987 đều trú thôn T, xã N, huyện T;
[3] Từ những căn cứ nêu trên có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận:
Khoảng 05 giờ ngày 29/12/2023, tại K đường Đ, thuộc khu vực cầu C, xã N, huyện T. Trương Văn Đ có hành vi để cát tràn ra đường giao thông (chiều rộng 6m, chiều dài 10,9m, vị trí cát cao nhất 0,3m), nhưng không thực hiện biện pháp cảnh báo chướng ngại vật trên đường và không đặt cảnh báo an toàn ở hai đầu dải cát. Đến khoảng 05 giờ 45 phút Phạm Văn K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha màu đỏ đen biển kiểm soát 17B1-882.36 chở vợ là bà Trần Thị T1 đi hướng cầu C - N do Kháng thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ đến mức có thể dừng lại một cách an toàn đã đâm vào gờ cát trên. Hậu quả bà T1 chết vì bị chấn thương sọ não. Hành vi của bị cáo Phạm Văn K đã vi phạm khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ và khoản 3 Điều 4; khoản 11 Điều 5 thông tư 31 gây hậu quả làm chết 01 người nên đã phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo Trương Văn Đ đã vi phạm điểm i, d khoản 2 Điều 35 Luật giao thông đường bộ gây hậu qủa làm chết 01 người nên đã phạm tội "Cản trở giao thông đường bộ" quy định tại điểm a khoản 1 Điều 261 Bộ luật Hình sự.
Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ:
1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Điều 261.Tội cản trở giao thông đường bộ
1. Người nào đào, khoan, xẻ, san lấp trái phép công trình giao thông đường bộ; đặt, để, đổ trái phép vật liệu, phế thải, rác thải, vật sắc nhọn, chất gây trơn hoặc chướng ngại vật khác gây cản trở giao thông đường bộ; tháo dỡ, di chuyển trái phép, làm sai lệch, che khuất hoặc phá hủy biển báo hiệu, đèn tín hiệu, cọc tiêu, gương cầu, dải phân cách hoặc thiết bị an toàn giao thông đường bộ khác; mở đường giao cắt trái phép qua đường bộ, đường có dải phân cách; sử dụng trái phép lề đường, hè phố, phần đường xe chạy, hành lang an toàn đường bộ hoặc vi phạm quy định về bảo đảm an toàn giao thông khi thi công trên đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Làm chết người;
[4] Đánh giá tính chất, mức độ, vai trò và hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm an toàn, trật tự công cộng là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ và gây hậu quả làm chết một người. Điều này đã gây tâm lý hoang mang, lo ngại cho quần chúng nhân dân khi tham gia giao thông. Khi tham gia giao thông bị cáo không chấp hành các quy định về khi tham gia giao thông đường bộ nên đã gây ra hậu quả nghiêm trọng. Vì vậy Hội đồng xét xử cần xử lý nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục, cải tạo đối với các bị cáo đồng thời cũng để phòng ngừa và răn đe tội phạm nói chung.
[5] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thì thấy: Các bị cáo Phạm Văn K và Trương Văn Đ đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Các bị cáo đều là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi của mình. Bị cáo Đ phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội bị cáo Đ cùng gia đình đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình người bị hại. Đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn xin giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị cáo K đã tự đứng ra chi phí mai táng cho người bị hại, đại diện hợp pháp người bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo là người cao tuổi và bị cáo có thời gian tham gia chiến tranh bảo vệ tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế sau ngày 30/4/1975. Do đó bị cáo K được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo Đ được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ những phân tích, đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo đều là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, ngoài hành vi phạm tội lần này không có hành vi phạm tội nào khác. Xét thấy, các bị cáo có khả năng cải tạo ngoài xã hội dưới sự quản lý, giám sát của cơ quan có thẩm quyền và việc để bị cáo cải tạo ngoài xã hội cũng không ảnh hưởng xấu đến công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Vì vậy Hội đồng xét xử cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho các bị cáo được áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với các bị cáo, để các bị cáo tự cải tạo ngoài xã hội, tạo điều kiện để cho các bị cáo cải tạo và sửa chữa sai lầm, trở thành người công dân có ích cho xã hội là phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước ta hiện nay.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Xét thấy, Quá trình điều tra gia đình bị cáo Trương Văn Đ đã thoả thuận bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền là 80.000.000 đồng, bị cáo Phạm Văn K đã tự mình chi phí mai táng cho bị hại đến nay không ai có yêu cầu, đề nghị gì thêm nên không đặt ra giải quyết.
[7] Vật chứng của vụ án: Xét thấy quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave anpha BKS 17B1-882.36 là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự nên được chấp nhận.
[8] Về các vấn đề khác của vụ án: Trong vụ án này ông Vũ Văn N1 điều khiển xe mô tô đâm vào gờ cát bị ngã ra đường, ông N1 không bị thương tích, chỉ xây xát nhẹ, bị cáo Trương Văn Đ đã thăm hỏi và bồi thường tiền chi phí chữa trị, ông N1 không có yêu cầu đề nghị gì về vụ việc trên nên không đặt ra giải quyết.
Anh Trương Văn Đ1 là người điều khiển tàu khi đến địa điểm tập kết cát là ông Đ1 vào cabin ngủ, việc Đại để cát tràn ra đường giao thông ông không biết. Đối với ông Vũ Văn H là chủ bãi cát, khi hợp đồng mua bán cát quy định rõ đổ cát vào đúng vị trí bến bãi, khi đủ khối lượng cát thì ông nhận; đối với Trương Văn S1 là người vận hành máy dưới tàu. Việc dẫn, điều chỉnh vòi bơm của đường ống hút cát vào đúng vị trí bãi do Đ chịu trách nhiệm nên không có căn cứ xử lý đối với ông Đ1, H và S1.
[9] Về án phí: Bị cáo Trương Văn Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo Phạm Văn K là người cao tuổi và là người có công với cách mạng nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1.Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn K phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, bị cáo Trương Văn Đ phạm tội: “Cản trở giao thông đường bộ”
2. Về hình phạt:
- + Đối với bị cáo Phạm Văn K: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Xử phạt bị cáo Phạm Văn K 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (Hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- + Đối với bị cáo Trương Văn Đ: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 261; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Xử phạt bị cáo Trương Văn Đ 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (Hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Phạm Văn K cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Trương Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã M, thị xã K, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về trách nhiệm dân sự:
Không đặt ra giải quyết.
4. Về vật chứng của vụ án:
Chấp nhận việc điều tra Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave anpha BKS 17B1-882.36.
5. Về án phí:
Miễn án phí cho bị cáo Phạm Văn K. Bị cáo Trương Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
6. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo Phạm Văn K, Trương Văn Đ có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người đại diện hợp pháp của người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nhi |
Bản án số 55/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI TỈNH THÁI BÌNH về hình sự (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và cản trở giao thông đường bộ)
- Số bản án: 55/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và Cản trở giao thông đường bộ)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: KHÁNG, ĐẠI
