|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 55/2024/HS-ST Ngày 21- 6 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hải
Ông Nguyễn Hồng Thăng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hiếu -Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình tham gia phiên tòa: Ông Lưu Nguyên Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2024/TLST-HS, ngày 29 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên ĐỖ VĂN H, sinh năm: 1995
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm H, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đỗ Thanh T, sinh năm 1954 và bà: Nông Thị M, sinh năm 1959; Vợ: Dương Thị N, sinh năm 1994 (đã ly hôn), con: Có hai con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2020; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình.
Tiền án: Không có
Tiền sự: Không có
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/4/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
(Có mặt tại phiên tòa)
- Bị hại: Anh Nông Văn S, sinh năm 1990
Trú tại: Xóm H, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên
(Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Dương Xuân T1, sinh năm 1987
Trú tại: TDP M, phường H, TP ., tỉnh Thái Nguyên
(Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 25/3/2024, Đỗ Văn H1, sinh năm 1995, trú tại xóm H, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên một mình đi bộ đến khu vực kho vật liệu xây dựng của anh Nông Văn S, sinh năm 1990, trú tại xóm H, xã T, huyện P thuộc xóm H, xã T, huyện P để tìm chỗ ngủ, do trước đây H1 đã từng lái xe tải thuê cho anh S. Khi đến kho vật liệu, H1 thấy có 02 xe ô tô tải của nhà anh S đỗ trong xưởng, trong đó có một xe có xi măng trên thùng, một xe không có xi măng trên thùng. H1 mở cửa xe rồi lên cabin của xe ôtô tải không có xi măng trên thùng để ngủ. Đến khoảng 05 giờ ngày 26/3/2024, anh S điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Ariblade, màu vàng-đen, biển kiểm soát 20G1-270.54 đến kho để lái xe ô tô chở xi măng giao cho khách, xe mô tô dựng tại cửa kho, vẫn cắm khóa ở ổ khóa điện của xe. Nhìn thấy H1, anh S hỏi “có nhà sao không ngủ mà ngủ ở đây”, rồi điều khiển xe ô tô chở xi măng đi. H1 tiếp tục ngủ thêm khoảng 10 phút nữa, khi dậy H1 thấy xe mô tô mô tô BKS 20G1-270.54 của anh S dựng tại kho vẫn cắm chìa khóa ở xe, không có người trông coi. H1 nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô của anh S để mang đi bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. H1 ngồi lên xe, mở khóa điện khởi động xe mô tô rồi điều khiển xe mô tô đi đến khu vực tổ dân phố M, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. H1 đi vào cửa hàng “DỊCH VỤ MUA BÁN - KÝ GỬI Ô TÔ - XE MÁY” của anh Dương Xuân T1, sinh năm 1987, trú tại tổ dân phố M, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên cầm cố chiếc xe mô tô trên cho anh T2 lấy số tiền 5.000.000 đồng để đi chơi game và tiêu xài cá nhân hết.
Sau khi chở xi măng giao cho khách về đến kho, anh Nông Văn S phát hiện chiếc xe mô tô bị mất nên đã trình báo sự việc đến Công an xã T, huyện P đề nghị giải quyết. Quá trình xác minh, Công an xã T đã tạm giữ xe mô tô biển kiểm soát 20G1-270.54 do anh Dương Xuân T1 tự nguyện giao nộp và chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P để giải quyết theo thẩm quyền. Ngày 01/4/2024, H1 đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đầu thú khai nhận hành vi trộm cắp xe mô tô của anh S như đã nêu trên, tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 đôi giầy H1 đã sử dụng khi thực hiện hành vi trộm cắp xe mô tô của anh S.
Ngày 01/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã yêu cầu định giá giá trị của chiếc xe mô tô biển kiểm soát 20G1-270.54 mà H1 đã trộm cắp của anh S. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐGTS ngày 05/4/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận giá trị của xe mô tô BKS 20G1-270.54 là 11.700.000 đồng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Đỗ Văn H1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của minh như đã nêu trên, lời khai của H1 là có căn cứ, phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được như: biên bản sự việc, đơn trình báo của bị hại, biên bản xác định hiện trường, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản, lời khai của bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án gồm: 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Airblade, màu vàng-đen, biển kiểm soát: 20G1-270.54, số khung: 4619EZ442272, số máy: JF46E7070487, tình trạng đã qua sử dụng; 01 đôi giầy màu trắng, dây giầy màu đen, đế in dòng chữ “Boss”, tình trạng cũ, đã qua sử dụng niêm phong trong hộp cattong ký hiệu “G” được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình chờ xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Nông Văn S không yêu cầu bị cáo H1 không phải bồi thường gì, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Dương Xuân T1 yêu cầu H1 trả lại số tiền 5000.000 đồng mà H1 cầm cố xe cho anh T1, H1 chưa thanh toán trả lại tiền cho anh T1.
Tại bản cáo trạng số 59/CT-VKSPB ngày 28/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Đỗ Văn H1 về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Trong phần tranh luận, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình sau khi phân tích, đánh giá chứng cứ, nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã giữ quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn H1 phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i,s khoản 1,2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn H1 từ 12 đến 15 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt anh S trình bày quan điểm tự nguyện không đề nghị bị cáo phải bồi thường gì. Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Dương Xuân T1 yêu cầu bị cáo phải có trách nhiệm trả lại anh số tiền 5.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo nhất trí sẽ có trách nhiệm thanh toán trả lại anh T1 số tiền 5.000.000 đồng, theo yêu cầu của anh T1, nên đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận trên và buộc bị cáo có trách nhiệm thanh toán trả lại cho anh T1 số tiền là 5.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47 của Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Trả lại anh Nông Văn S: 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Airblade, màu vàng-đen, biển kiểm soát: 20G1-270.54, số khung: 4619EZ442272, số máy: JF46E7070487, tình trạng đã qua sử dụng.
- Tịch thu tiêu hủy những vật chứng không còn giá trị sử dụng:
Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có tranh luận gì.
Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Vào khoảng 05 giờ 10 phút ngày 26/3/2024, tại khu vực xưởng vật liệu xây dựng của anh Nông Văn S thuộc xóm H, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Đỗ Văn H1 đã có hành vi trộm cắp 01 mô tô nhãn hiệu Honda, loại Airblade, màu vàng - đen, biển kiểm soát 20G1-270.54 có giá trị là 11.700.000 đồng của anh Nông Văn S.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo H1 tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp lời khai của bị hại, những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Bị cáo H1 là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên buộc phải nhận thức và biết được việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Thế nhưng, bị cáo vẫn thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Airblade mà bị cáo chiếm đoạt của anh Nông Văn S có giá trị là 11.700.000 đồng. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Đỗ Văn H1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự và lời buộc tội của Kiểm sát viên tại phiên toà là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Theo quy định tại Điều 173 của Bộ luật hình sự:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đồng đến 50.000.000đồng.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp tới quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây bức xúc cho nhân dân, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự của địa phương còn là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác. Hành vi đó của bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh để răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Mặc dù bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thể hiện bị cáo là đối tượng lười lao động, ham mê các trò chơi điện tử, thường xuyên ở lại quán game không về nhà, không có công việc ổn định, không chịu lao động để tạo ra thu nhập mà lại muốn hưởng thụ nên đã nảy sinh trộm cắp tài sản, chiếm đoạt tài sản của người khác để bán lấy tiền đi chơi game và tiêu sài cá nhân.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội bị cáo đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra đầu thú nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1,2 Điều 51 của BLHS năm 2015.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của BLHS năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, sống phụ thuộc gia đình và không có tài sản riêng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: - Bị hại tự nguyện không yêu cầu bị cáo bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Dương Xuân T1 yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã cầm cố chiếc xe mô tô là 5.000.000 đồng, tại phiên tòa bị cáo nhất trí sẽ có trách nhiệm thanh toán số tiền 5.000.000 đồng cho anh T1. Xét thấy, việc thỏa thuận giữa anh T1 và bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, không trái với đạo đức xã hội và phù hợp với quy định pháp luật nên cần công nhận sự thỏa thuận trên. Do vậy, buộc bị cáo có trách nhiệm thanh toán cho anh T1 số tiền là 5.000.000 đồng.
[7] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Áp dụng điều 46, 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS năm 2015.
- Đối với vật chứng không còn giá trị sử dụng và bị cáo từ chối nhận lại gồm: 01 đôi giày màu trắng, dây giầy màu đen, đế in dòng chữ “Boss”, tình trạng cũ, đã qua sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với vật chứng là: 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu sơn: vàng đen, BKS: 20G1-270.54 là tài sản hợp pháp của anh Nông Văn S, cần trả lại cho anh S quản lý, sử dụng.
[8] Trong vụ án này có anh Dương Xuân T1 đã nhận cầm cố chiếc xe mô tô biển kiểm soát 20G1 – 270.54, nhưng anh T1 không biết chiếc xe mô tô trên là do bị cáo H1 phạm tội mà có nên không xem xét xử lý đối với anh T1.
[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với bị cáo như đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và những vấn đề khác của vụ án là phù hợp với quy định của Pháp luật cần chấp nhận.
[10] Cần áp dụng Điều 329 của BLTTHS ra quyết định tạm giam bị cáo Đỗ Văn H1 với thời hạn 45 ngày để đảm bảo thi hành án.
[11] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước theo quy định pháp luật.
[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ, áp dụng pháp luật:
- Khoản 1 Điều 173; điểm i,s khoản 1,2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Điều 46, 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 329, Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ – HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn H1 phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Xử phạt Đỗ Văn H1 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 01/4/2024.
- Ra quyết định tạm giam bị cáo Đỗ Văn H1 với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Về trách nhiệm dân sự: Công nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa Bị cáo H1 và anh Dương Xuân T1. Cụ thể như sau: Bị cáo Đỗ Văn H1 có trách nhiệm thanh toán cho anh Dương Xuân T1 số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, anh T1 có đơn yêu cầu thi hành, nếu Bị cáo H1 không tự nguyện thi hành được khoản tiền trên, thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi được xác định theo Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
- Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:
- - Tịch thu tiêu hủy những vật chứng gồm: 01 (Một) Hộp cattong niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu G, bên trong có chứa 01 đôi giày màu trắng, dây giầy màu đen, đế in dòng chữ “Boss”, tình trạng cũ, đã qua sử dụng.
- - Trả lại anh Nông Văn S: 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu sơn: vàng đen, BKS: 20G1-270.54, số khung: 4619EZ442272; số máy: JF46E7070487, dung tích xi lanh: 108 cm³, xe có đủ gương chiếu hậu cả hai bên, khi giao nhận xe không kiểm tra tình trạng bên trong xe và săm lốp bên ngoài xe cũ đã qua sử dụng (Không có chìa khóa xe).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/6/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra của Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình)
- Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.
- Thông báo quyền kháng cáo: Có mặt bị cáo (Đỗ Văn H1), báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định./.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thủy |
Bản án số 55/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 55/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
