|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 55/2024/HS-ST Ngày 21-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thiêm
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Chu Quốc Đạt
- Ông Nguyễn Quang Vinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 06 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 48/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53A/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
* Họ và tên: Nguyễn Văn H, sinh năm 1990. Tên gọi khác: không.
- - Nơi cư trú: Thôn B, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tên gọi khác: không.
- - Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam;
- - Con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1970 (đã chết); có vợ là Bùi Thị Y, sinh năm 1995 (đã ly hôn) và 01 con.
- - Tiền án, tiền sự: Không.
- - Nhân thân: Bản án số 20/2014/HSST ngày 28/02/2014 của Tòa án nhân nhân huyện L xử phạt 09 tháng tù về tội “Đánh bạc”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/6/2015, chấp hành xong án phí ngày 30/9/2014.
- - Bị cáo đầu thú, bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/02/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện L - Có mặt.
* Họ và tên: Nguyễn Văn H1, sinh năm 1988. Tên gọi khác: không.
- - Nơi cư trú: Thôn X, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang;
- - Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam;
- - Con ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1955 và bà Phạm Thị B, sinh năm 1955 (đã chết); có vợ là Lê Thị Ngọc D, sinh năm 2003 và 02 con.
- - Tiền án:
- + Bản án số 42/2017/HSST ngày 29/6/2017, Toà án nhân dân huyện Lục Nam xử phạt 8 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/4/2018, chấp hành xong án phí HSST ngày 11/9/2017. Trị giá tài sản 3.945.000 đồng.
- + Bản án số 93/2019/HSST ngày 27/11/2019, Toà án nhân dân huyện Lục Nam xử phạt 8 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (trị giá tài sản 300.000 đồng). Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/3/2020, chấp hành xong án phí HSST ngày 29/6/2020.
- + Bản án số 128/2021/HSST ngày 31/12/2021, Toà án nhân dân huyện Lục Nam xử phạt 9 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (trị giá tài sản 1.750.000 đồng). Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/7/2022, chấp hành xong án phí HSST ngày 17/02/2022.
- - Tiền sự: Không
- - Nhân thân:
- + Ngày 03/8/2011, Chủ tịch UBND huyện L ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, thời hạn 12 tháng.
- + Ngày 31/5/2013, Chủ tịch UBND huyện L ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, thời hạn 24 tháng.
- + Ngày 12/6/2013, Công an phường H, thành phố B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- + Ngày 25/4/2019, Công an huyện L xử phạt hành chính về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”.
- Bị cáo đầu thú, bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/02/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện L - Có mặt.
* Bị hại: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1963 – Vắng mặt
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Chí B1, sinh năm 1993. Địa chỉ: Khu X, phường H, Tp ., tỉnh Bắc Ninh – Vắng mặt
- Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1960. Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang – Vắng mặt
* Người làm chứng:
- - Bà Kiều Thị C, sinh năm 1964 – Có mặt
- Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang
- - Anh Lê Ngọc T1, sinh năm 1975 – Vắng mặt
- Địa chỉ: TDP Đ, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang
- - Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1965 – Có mặt
- Địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang
- - Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1975 – Vắng mặt
- Địa chỉ: Thôn M, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang
- - Ông Nguyễn Khắc C1, sinh năm 1956 – Vắng mặt
- Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn H, sinh năm 1990 ở thôn B, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang có mối quan hệ quen biết với Nguyễn Văn H1, sinh năm 1988 ở thôn X, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Buổi sáng ngày 23/02/2024, Nguyễn Văn H đi xe ôm từ thị trấn K đến nhà Nguyễn Văn H1 chơi. Đến khoảng 12 giờ, ngày 24/02/2024, sau khi cơm xong H nhờ H1 đưa về nhà, H1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Dream màu nâu (là xe của H cho H1 mượn từ trước, không nhớ rõ biển kiểm soát) chở H về. Khi đi đến đoạn đường bê tông lối vào cổng doanh trại Lữ Đoàn 673 thuộc thôn T, xã T, huyện L, H quan sát thấy 01 xe mô tô Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 98N5-6087 của bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1963 ở thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang đang dựng tại rìa đường. Lúc này bà M đang làm việc dưới ruộng cách đó 30m. Quan sát xung quang không có người nên H nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe này, H bảo với H1 là “đây có con xe không có người, quay lại để lấy xem được không”. H1 đồng ý rồi quay đầu xe đi đến vị trí chiếc xe của bà M dừng đỗ cách khoảng 3-4 mét. H xuống xe, lấy 01 con dao có chuôi gỗ, dài khoảng 20cm, mũi dao nhọn, để trong túi áo chọc đầu mũi dao vào ổ khóa điện vặn mở theo chiều kim đồng hồ thì mở được khóa điện. Sau đó, H lên xe nổ máy đi trước, H1 đi xe mô tô theo sau đến nhà bà Kiều Thị C, sinh năm 1964 ở thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang để lại chiếc xe trộm cắp để rửa rồi gửi xe thì bà C đồng ý. H1 chở H đến nhà anh Đặng Văn H3, sinh năm 1978 ở tổ dân phố T, thị trấn K, huyện L chơi. Được một lúc thì H ở lại nhà anh H3 còn H1 điều khiển xe mô tô Dream của H về quán rửa xe của bà C để đổi xe của H sau đó lấy xe trộm cắp được về nhưng bà C không đồng ý nên H1 đi về nhà. Trên đường về sau khi trộm cắp sợ bị phát hiện nên H1 đã tháo biển kiểm soát xe Dream vứt đi, H1 không nhớ rõ địa điểm. Đến khoảng 11 giờ ngày 25/02/2024, H nhờ bố đẻ là ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1965 ở thôn B, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang chở đến nhà bà C để lấy xe mô tô trộm cắp. Sau khi lấy được H một mình đi sang nhà H1, sau đó Hoàng liên h với Nguyễn Đức N1, sinh năm 1994 ở thôn M, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang để nhờ N1 bán xe trộm cắp được của bà M. N1 đồng ý và liên hệ với anh Nguyễn Chí B1, sinh năm 1993 ở Khu X, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh để bán xe thì B1 đồng ý mua. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, N1 đi cùng B1 đến nhà H1 gặp H và H1. B1 xem xe và đồng ý mua với giá 2.200.000 đồng. B1 dùng số tài khoản 3219936789 tại ngân hàng M1 mang tên Nguyễn Chí B1 chuyển khoản số tiền 2.200.000 đồng vào tài khoản V1 số 9352320444 mang tên Nguyễn Văn H và đưa thêm 200.000 đồng cho H (đây là tiền Hoạt thay săm xe). Số tiền bán xe trộm cắp được H chia cho H1 1.000.000 đồng, số tiền này H1 và H đã chi tiêu cá nhân hết. Vào một ngày cuối tháng 2/2024, Nguyễn Văn H đi xe mô tô Dream màu nâu, không gắn biển kiểm soát của H đến nhà anh Lê Ngọc T1, sinh năm 1975 ở tổ dân phố Đ, thị trấn V, huyện L chơi và gửi lại chiếc xe tại đây.
Khi mang xe về sử dụng, B1 khai trong quá trình đi lại B1 đã làm rơi mất biển kiểm soát, cụ thể rơi ở đâu B1 không rõ. Khoảng đầu tháng 3/2024, sau khi được N1 gọi điện thông báo, B1 biết chiếc xe mua của H và H1 là xe do trộm cắp được mà có, N1 đề nghị B1 trả xe cho N1 để giao nộp cho cơ quan điều tra. B1 đồng ý và giao xe lại cho một người nam giới không quen biết là bạn của N1 rồi về. Sáng ngày 07/4/2024 bà Nguyễn Thị V (mẹ của N1) ngủ dậy phát hiện tại sân của gia đình có 01 chiếc xe mô tô kiểu dáng Wave màu đen, không gắn biển kiểm soát, do nghi chiếc xe là tang vật vụ án mà cơ quan công an đang truy tìm như trước đó đã thông báo với gia đình nên ngày 10/4/2024, bà V đã giao nộp chiếc xe trộm cắp được cho Cơ quan điều tra.
Ngày 28/02/2024, Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn H1 đến Công an huyện L đầu thú và khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của bản thân như nêu trên, khi đầu thú H giao nộp 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO màu đen, số IMEI 868683048205938 lắp số thuê bao 0352.320.444, 01 bản phô tô CCCD số [...] mang tên Nguyễn Văn H.
Ngày 28/02/2024, Cơ quan điều tra kiểm tra điện thoại của H xác định: Tại nội dung trò chuyện tin nhắn với tài khoản Zalo tên “Su Su” có nội dung trao đổi liên quan đến việc H bán xe xe trộm cắp. Kiểm tra mục tin nhắn có nội dung chuyển khoản tới tài khoản V1 số tiền 2.200.000 đồng từ tài khoản ngân hàng có tên “NGUYEN CHI BAO” đến tài khoản ngân hàng của H lúc 15 giờ 13 phút ngày ngày 26/02/2024.
Ngày 28/3/2024, Cơ quan điều tra tiến hành cho B1 nhận dạng N1, H, H1, kết quả: Bảo nhận dạng được đối tượng N1 và H1.
Ngoài ra, Cơ quan điều tra tiến hành xác minh, sao kê số tài khoản 9352320444 của Nguyễn Văn H tại Ngân hàng TMCP N3 xác định ngày 26/02/2024, Nguyễn Chí B1 có chuyển khoản đến tài khoản của H số tiền 2.200.000 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐĐGTS ngày 28/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: “Giá trị 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen; biển kiểm soát: 98N-56087; đăng ký lần đầu năm 2009 tại thời điểm tháng 02/2024 có giá là: 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).
Cáo trạng số 53/CT-VKS ngày 15 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn H1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố đã nêu. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng khác trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Tòa án đã trích lời khai của những người vắng mặt, các bị cáo không có ý kiến gì về lời khai của những người này.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang phát biểu lời luận tội đối với bị cáo, phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện đồng thời giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị HĐXX:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 07 tháng – 09 tháng tù. Thời gian tù tình từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/02/2024. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 từ 09 tháng – 12 tháng tù. Thời gian tù tình từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/02/2024. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- * Về vật chứng: 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO màu đen, số IMEI 868683048205938 lắp số thuê bao 0352.320.444 của Hoàng liên q đến hành vi phạm tội nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- * Buộc các bị cáo phải chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận và xin Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng các quy định về thẩm quyền, trình tự tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, xác định các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án là hợp pháp.
[2]. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên toà (tuy nhiên những người này đã có lời khai đầy đủ trong quá trình điều tra). Căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người này.
[3]. Xem xét về hành vi phạm tội:
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với đơn trình báo, lời khai của người bị hại Nguyễn Thị M và lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Chí B1, lời khai của những người làm chứng trong vụ án, phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm, vật chứng đã được thu giữ. Các bị cáo H, H1 đã lợi dụng sơ hở, thực hiện hành vi lém lút chiếm đoạt tài sản của gia đình bà Nguyễn Thị M, tài sản H và K chiếm đoạt được là một xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 98N5-6087 trị giá 5.000.000đ (Năm triệu đồng).
Như vậy, có đủ căn cứ chứng minh bị cáo Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn H1 đã phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang truy tố các bị cáo theo tội danh, điều luật trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đây là vụ án có đồng phạm mang tính chất giản đơn, các bị cáo bột phát thực hiện hành vi trộm cắp tài sản mục đích lấy tiền ăn tiêu, song giữa hai bị cáo không có phân công, bàn bạc, sắp đặt. Xét về vai trò của từng bị cáo HĐXX thấy, bị cáo Nguyễn Văn H là người khởi xướng việc trộm cắp xe, trực tiếp thực hiện hành vi tích cực do đó bị cáo H có vai trò chính, trên bị cáo H1. Đối với bị cáo H1, khi được H rủ rê trộm cắp tài sản đã hưởng ứng, thực hiện việc quay xe mô tô để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, được hưởng lợi từ tiền bán xe trộm cắp được nên HĐXX xem xét bị cáo có vai trò đứng sau bị cáo H.
[4]. Xét về nhân thân các bị cáo thì thấy: Các bị cáo đều là người có nhân thân xấu:
- + Bị cáo H đã bị của Toà án nhân dân huyện Lạng Giang xử 09 tháng tù về tội “Đánh bạc” năm 2014. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/6/2015, chấp hành xong án phí ngày 30/9/2014.
- + Bị cáo H1 có 03 tiền án về tội Trộm cắp tài sản năm 2017, 2019, 2021, 02 lần bị cơ quan chức năng ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” và hành vi “Gây rối trật tự công cộng”.
[5]. Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; sau khi phạm tội các bị cáo đã đầu thú nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6]. Xét các tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự thì thấy:
- - Bị cáo H không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- - Đối với bị cáo H1, ngày 31/12/2021, bị cáo H1 đã bị Toà án nhân dân huyện Lục Nam xét xử về “Tội trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phí HSST ngày 17/02/2022, chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/7/2022 thì ngày 28/02/2024 bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do bị cáo chưa được xoá án tích nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Trên cơ sở đánh giá tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo nhận thấy: Các bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần bị Toà án xét xử kết tội và bị các cơ quan tổ chức xử phạt hành chính nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội điều này cho thấy các bị cáo là những đối tượng coi thường pháp luật, khó giáo dục, khó cải tạo nên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo là hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định thì mới có tác dụng giáo dục cải tạo đối với các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội như mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp.
[7].Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có công việc và thu nhập nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.
[8]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9]. Về vật chứng:
Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO màu đen, số IMEI 868683048205938 lắp số thuê bao 0352.320.444 của bị cáo H là phương tiện sử dụng liên lạc để thực hiện hành vi phạm tội nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 1 và điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave màu đen, không gắn biển kiểm soát, số máy 1343703, số khung 142826, xe cũ đã qua sử dụng là tài sản của bà Nguyễn Thị M. Ngày 17/4/2024, cơ quan điều tra đã trả lại cho bà M việc trả vật chứng phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với xe mô tô kiểu dáng Dream màu nâu, không gắn biển kiểm soát, số máy 39FMB3429097, số khung 429097, H khai khi đang ngồi ở ngã 3 thị trấn K thì gặp một người đàn ông không quen biết đang muốn bán chiếc xe trên với giá 650.000 đồng. H đồng ý mua rồi mang xe về hai bên không viết giấy tờ mua bán gì. Sau khi điều tra xác định chiếc xe mô tô trên thuộc quyền sở hữu của anh Triệu Văn T2, sinh năm 1985 ở thôn T, xã V, huyện H, tỉnh Lạng Sơn bị trộm cắp ngày 19/02/2024 tại thôn T, xã V, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Cơ quan điều tra đã bàn giao cho Cơ quan CSĐT- Công an huyện H để điều tra theo thẩm quyền do đó HĐXX không xem xét.
[10]. Về các vấn đề khác:
Đối với Nguyễn Chí B1, bà Kiều Thị C không biết chiếc xe mô tô là tài sản H, H1 do trộm cắp tài sản mà có, ông Nguyễn Văn L được H nhờ chở đi lấy xe nhưng không biết đó là xe mô tô trộm cắp nên không đề cập xử lý do đó HĐXX không xem xét
Đối với Nguyễn Đức N1 quá trình điều tra xác định N1 hiện không có mặt tại địa phương. Ngày 05/3/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm người và tạm hoãn xuất cảnh đối với N1. Ngày 26/4/2024, Cơ quan điều tra đã tách hành vi của N1 để tiếp tục xác minh, làm rõ do đó HĐXX không xem xét.
Đối với biển kiểm soát 98N5-6087, Nguyễn Chí B1 khai sau khi mua xe trong quá trình sử dụng bị rơi mất, không xác định được vị trí, địa điểm do vậy không có căn cứ để truy tìm; Đối với biển kiểm soát của xe mô tô Dream màu nâu H1 khai trên đường từ nhà anh H3 về do sợ bị phát hiện đã tháo biển vứt đi nhưng không nhớ rõ vị trí địa điểm cụ thể nên không có căn cứ để truy tìm; Đối với con dao H dùng để chọc, bẻ khoá xe mô tô, H không nhớ để đâu nên không có căn cứ để truy tìm, thu giữ do đó HĐXX không xem xét.
[11]. Do các bị cáo đang bị tạm giam nên cần tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án theo quy định Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.
[12]. Về án phí: Căn cứ Điều 3, Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn N2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm
Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, Điều 17, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự; Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 332, Điều 333, Điều 336 và Điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Điều 3, Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 07 (bẩy) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 28/02/2024. Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo H.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, Điều 17, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự; Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 332, Điều 333, Điều 336 và Điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Điều 3, Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H1 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 28/02/2024. Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo H1.
- Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO màu đen, số IMEI 868683048205938 lắp số thuê bao 0352.320.444 của bị cáo Nguyễn Văn H.
(Đặc điểm của vật chứng theo như biên bản về việc giao nhận vật chứng giữa Công an huyện L và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạng Giang).
- Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự .
Án xử công khai sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Quang Vinh + Chu Quốc Đạt |
Vũ Thị Thiêm |
Bản án số 55/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 55/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Hoàng, Nguyễn Văn Hoạt cùng phạm tội
