TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - PHÚ THỌ Bản án số:55/2025/HNGĐ-ST Ngày: 17/12/2025 V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - PHÚ THỌ
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lương Ngọc Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Ngọc Đương;
2. Bà Nguyễn Thị Tâm.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Cường - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 6 - Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Liên Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 6 - Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:125/2025/TLST-HNGĐ ngày 15/10/2025 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:57/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/12/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Y S - sinh năm 1996
Địa chỉ: khu S, xã T, tỉnh Phú Thọ
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Hồng N, Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm T1 tỉnh Phú Thọ
- Bị đơn: Anh Đinh Văn C, sinh năm 1993
Địa chỉ: khu S, xã T, tỉnh Phú Thọ
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Bà Hoàng Thị H, Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm T1 tỉnh Phú Thọ
(Nguyên đơn, bị đơn, bà N, bà H đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ghi ngày 05/8/2025, quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án nguyên đơn trình bày: Nguyên đơn và bị đơn kết hôn ngày 17/10/2013, tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Y, nay là xã T, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn vợ, chồng ở chung với mẹ đẻ anh C ở xã T, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống tình cảm vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến khoảng năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống và làm ăn kinh tế, gia đình khó khăn dẫn đến cãi vã xung đột, bị đơn không chăm lo cho vợ con và chia sẻ công việc gia đình với nguyên đơn, tuy đã được gia đình khuyên giải nhưng bị đơn không thay đổi. Do mâu thuẫn trầm trọng nên từ năm 2024 nguyên đơn về nhà bố mẹ đẻ ở cho đến nay, vợ chồng sống mỗi người một nơi, không ai quan tâm đến ai. Nay nguyên đơn xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa giải quyết cho được ly hôn bị đơn.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 06/11/2025, quá trình giải quyết vụ án bị đơn trình bày: Bị đơn và nguyên đơn kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã T ngày 17/10/2013, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với mẹ đẻ nguyên đơn ở xã T. Quá trình chung sống tình cảm vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã xung đột, tuy đã được gia đình khuyên giải nhưng hai bên không khắc phục được mâu thuẫn. Do mâu thuẫn trầm trọng nên nguyên đơn đã về nhà mẹ ở cho đến nay, vợ chồng sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Nay nguyên đơn yêu cầu ly hôn bị đơn đồng ý ly hôn vì bị đơn cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn.
- Về con chung: Hai bên trình bày vợ chồng có 02 con chung là Đinh Việt T, sinh ngày 15/3/2014 và Đinh Văn N1 - sinh ngày 27/3/2017, hiện nay đều ở với anh C. Ly hôn anh C xin được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung và yêu cầu chị Y S cấp dưỡng nuôi con cho 02 con là 1.000.000đồng/01 con/tháng, 02 con là 2.000.000đồng/02 con/tháng. Chị Y S cũng đồng ý để anh C trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung chị sẽ cấp dưỡng nuôi hai con chung cùng anh C 1.000.000đồng/01 con/tháng, 02 con là 2.000.000đồng/02 con/tháng kể từ tháng 01/2026 đến khi con chung thành niên, phương thức cấp dưỡng định kỳ vào ngày 25 hàng tháng; Hai con chung đều trên 07 tuổi có nguyện vọng ở với anh C.
- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản và công sức: Hai bên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, đều thực hiện đúng quy định pháp luật.
Quan điểm của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án như sau: Về quan hệ hôn nhân Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Y S và anh Đinh Văn C; Về con chung: Giao hai con chung cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng kể từ khi ly hôn đến khi con chung thành niên, chị Y S có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cùng anh C 1.000.000đồng/01 con/tháng, 02 con là 2.000.000đồng/02 con/tháng kể từ tháng 01/2026 đến khi con chung thành niên, phương thức cấp dưỡng định kỳ vào ngày 25 hàng tháng. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí cho chị Y S và anh Đinh Văn C vì là người dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại xã T, tỉnh Phú Thọ, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Phú Thọ, được quy định tại Điều 28; Điều 35 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, nên Tòa án không tiến hành hòa giải theo khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nguyên đơn và bị đơn đều yêu cầu xét xử vắng mặt, do vậy Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án là phù hợp với khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc xin ly hôn bị đơn thấy rằng:
- Về quan hệ hôn nhân: nguyên đơn và bị đơn kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y (nay là xã T), tỉnh Phú Thọ ngày 17/10/2013 trên cơ sở tự nguyện, không thuộc trường hợp cấm kết hôn. Vì vậy, đó là cuộc hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống hai bên đều thừa nhận tình cảm vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã xung đột, tuy đã được gia đình khuyên giải nhưng hai bên không khắc phục được mâu thuẫn. Do mâu thuẫn trầm trọng nên từ năm 2024 nguyên đơn đã về nhà cha mẹ đẻ cho đến nay, vợ chồng không ai quan tâm đến ai, đến nay hai bên đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên nguyên đơn xin ly hôn, bị đơn cũng đồng ý ly hôn, vì vậy cần công nhận sự thuận tình ly hôn của họ.
- Về con chung: Hai bên trình bày vợ chồng có 02 con chung, ly hôn anh C xin được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, 02 con chung cũng đều trên 07 tuổi và đều có nguyện vọng ở với anh C, chị Y S cũng có quan điểm đồng ý để anh C trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, vì vậy nên giao 02 con chung cho anh C nuôi dưỡng, chị Y S có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cùng anh C 1.000.000đồng/01 con/tháng, 02 con là 2.000.000đồng/02 con/tháng kể từ tháng 01/2026 đến khi con chung thành niên, phương thức cấp dưỡng định kỳ vào ngày 25 hàng tháng theo sự thỏa thuận của các đương sự là phù hợp.
- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản và công sức đóng góp: Hai bên không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Nguyên đơn, bị đơn đều là người dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn án phí, nên được miễn toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con chung;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 55, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự;
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Y S.
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Y S và anh Đinh Văn C.
- Về con chung: Giao cho anh Đinh Văn C trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Đinh Việt T, sinh ngày 15/3/2014 và Đinh Văn N1 - sinh ngày 27/3/2017; Chị Y S có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con cùng anh Đinh Văn C số tiền 1.000.000đồng/01 con/tháng, 02 con là 2.000.000₫ (Hai triệu đồng)/02 con/tháng, kể từ tháng 01/2026 đến khi con chung thành niên, phương thức cấp dưỡng định kỳ vào ngày 25 hàng tháng.
Anh Đinh Văn C cùng các thành viên gia đình không được cản trở chị Y S trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
- Về án phí: Miễn toàn bộ tiền án phí ly hôn sơ thẩm cho chị Y S và anh Đinh Văn C; miễn toàn bộ án phí cấp dưỡng nuôi con cho chị Y S vì đều là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng đặc biệt khó khăn.
Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo để yêu cầu xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày họ nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lương Ngọc Dũng |
Bản án số 55/2025/HNGĐ-ST ngày 17/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 55/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án HNGĐ số 55
