|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 55/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 26-5-2025
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương Nhi
Các Hội thẩm nhân dân.
- 1. Ông Nguyễn Công Trung
- 2. Ông Nguyễn Hồng Vân
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Ka Phu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Tiến – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 49/2025/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2025 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2025/QĐST - HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2025/QĐST - HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1976. (có mặt)
- Bị đơn: bà Nguyễn Thị Bảo T, sinh năm 1977. (vắng mặt)
Địa chỉ: 291/TA, ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông L: Luật sư Nguyễn Tấn Đ – Văn phòng luật sư Nguyễn Tấn Đ thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B.
Nơi ĐKTT: 291/TA ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.
Chỗ ở hiện nay: ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 18 tháng 12 năm 2024, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn ông Nguyễn Văn L trình bày:
Ông và bà Nguyễn Thị Bảo T kết hôn năm 2005, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cự cãi nhưng không hòa giải được, từ tháng 4 năm 2023 vợ chồng đã sống ly thân đến nay. Trong thời gian sống ly thân hai bên không liên lạc, không có ý định hàn gắn hôn nhân. Ông nhận thấy mâu thuẫn của vợ chồng đã trầm trọng, đôi bên không còn tình cảm, hôn nhân không còn hạnh phúc nên yêu cầu được ly hôn với bà T.
Về con chung: ông và bà T có 02 con chung là Nguyễn Nhật H, sinh ngày 17/11/2005 và Nguyễn Huỳnh M, sinh ngày 16/5/2008. Hiện nay, Nhật H đã trưởng thành và có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết. Cháu Huỳnh M đang sống cùng bà T nên ông đồng ý giao cháu Huỳnh M cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, ông không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày: Ông L và bà T mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2023 đến nay. Từ đó thấy rằng mâu thuẫn giữa ông L và bà T đã trầm trọng, không thể hàn gắn được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông L. Về con chung, hiện nay cháu Nhật H đã trưởng thành và có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; cháu Huỳnh M đang sống cùng bà T và ông L đồng ý để cháu Huỳnh M cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng nên đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Huỳnh M cho bà T nuôi dưỡng, ông L không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết; về nợ chung không có nên không yêu cầu giải quyết.
Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, xét thấy trong quá trình tố tụng, Thẩm phán đã tuân thủ và tiến hành đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt là chưa thực hiện nghiêm quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, thành viên Hội đồng xét xử vô tư, khách quan, độc lập khi xét xử; vụ án được đưa ra xét xử là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Nguyễn Văn L đối với bà Nguyễn Thị Bảo T. Về con chung, cháu Nhật H đã trưởng thành nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; đề nghị giao cháu Huỳnh M cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, ông L không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, qua kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: bị đơn bà Nguyễn Thị Bảo T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Bảo T.
[2] Về hôn nhân: ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị Bảo T kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre ngày 10 tháng 10 năm 2005 nên quan hệ hôn nhân giữa ông L và bà T là hợp pháp.
Tại biên bản xác minh của Tòa án được đại diện chính quyền địa phương cung cấp thông tin: trong thời gian chung sống ông L và bà T xảy ra mâu thuẫn về vấn đề gì thì địa phương không rõ, do đây là chuyện nội bộ gia đình.
Nhận thấy, trong thời gian chung sống ông L và bà T xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi làm cho hôn nhân không còn hạnh phúc, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2023 đến nay. Trong thời gian sống ly thân hai bên không gặp mặt. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án; thông báo tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; giấy triệu tập xét xử nhưng bà T vắng mặt không có lý do và không có văn bản ý kiến gửi cho Tòa án; từ đó thấy rằng bà T không có thiện chí hòa giải hàn gắn hôn nhân với ông L. Ông L xác định không còn tình cảm với bà T nên yêu cầu ly hôn. Qua đó, thấy rằng mâu thuẫn giữa ông L và bà T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể tiếp tục nên ông L yêu cầu ly hôn với bà T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về con chung: ông L và bà T có 02 con chung là cháu Nguyễn Nhật H, sinh ngày 17/11/2005 và cháu Nguyễn Huỳnh M, sinh ngày 16/5/2008.
Hiện nay, cháu Nhật H đã trưởng thành và có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân nên ông L không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Trong quá trình tố tụng, ông L và bà T không đưa cháu Huỳnh M đến Tòa án để lấy ý kiến, cháu Huỳnh M cũng không có văn bản thể hiện ý kiến gửi cho Tòa án, Tòa án đã đến nhà bà T để lấy ý kiến cháu Huỳnh M nhưng không được. Nhận thấy, Tòa án đã thực hiện các biện pháp nhưng không lấy được ý kiến của cháu Huỳnh M, từ khi vợ chồng sống ly thân cháu Huỳnh Mai S cùng mẹ là bà T nên tình cảm với mẹ là thân thiết hơn và ông L đồng ý để cháu Huỳnh M cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng nhưng bà T không có ý kiến phản đối. Do đó, việc giao cháu Huỳnh M cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là đảm bảo sự ổn định về môi trường sống, cũng như ổn định về tâm lý và tình cảm của cháu.
Do bà T không có yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về tài sản chung: không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về nợ chung: không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) ông L phải nộp theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Nguyễn Văn L. Ông Nguyễn Văn L được ly hôn với bà Nguyễn Thị Bảo T.
- Về con chung: cháu Nguyễn Nhật H, sinh ngày 17/11/2005 đã trưởng thành và cháu Nguyễn Huỳnh M, sinh ngày 16/5/2008.
- Về tài sản chung: không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về nợ chung: không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) ông Nguyễn Văn L phải nộp và được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0007288 ngày 06/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.
Bà Nguyễn Thị Bảo T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Huỳnh M, sinh ngày 16/5/2008. Do bà T không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên đương sự có quyền yêu cầu Tòa án xem xét thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Công Trung - Nguyễn Hồng Vân |
Trần Thị Phương Nhi |
Bản án số 55/2025/HNGĐ-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 55/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
