Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN UYÊN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 55/2025/HS-ST

Ngày: 27-3-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thành Hiệp.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tống Văn Tâm;

Bà Huỳnh Anh Thư.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Yến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên (được Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phân công thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án) tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thanh P - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 47/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Thành T (Tên gọi khác: Đen T), sinh năm 1985 tại Đồng Nai; nơi đăng ký thường trú: Trước năm 2002 tại Tổ A, khu phố B, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; sau năm 2002: không có; chỗ ở: Khu nhà ở của Công ty TNHH MTV T5 tại khu phố B, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1932 (đã chết) và bà Diệp Quế L, sinh năm 1954; có vợ tên Kiều Việt T1, sinh năm 1990 (không đăng ký kết hôn) và 01 con sinh năm 2013.

Tiền án:

  • - Ngày 19/11/2008, bị Tòa án nhân dân huyện (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dương xử phạt 26 tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự; chấp hành việc nộp phí ngày 23/12/2008, chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/5/2010 (Bản án số 346/2008/HSST).
  • - Ngày 29/10/2012, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự; chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/12/2012, được miễn nghĩa vụ thi hành án phí số tiền 200.000 đồng ngày 19/7/2024 (Bản án số 674/2012/HSST; bị cáo tái phạm).
  • - Ngày 16/6/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm tù về tội “Đánh bạc” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 248 Bộ luật Hình sự; chấp hành xong án phạt tù nhưng chưa thi hành số tiền 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. (Bản án số 334/2014/HSST; bị cáo tái phạm nguy hiểm).
  • - Ngày 19/11/2014, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 06 năm tù về tội “Cướp tài sản” quy định tại điểm c, điểm d khoản 2 Điều 133 Bộ luật Hình sự (Bản án số 368/2014/HSPT); tổng hợp với hình phạt 02 năm tù về tội “Đánh bạc” của bản án số 334/2014/HSST ngày 16/6/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 08 năm tù; đã nộp án phí ngày 19/6/2015, chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/9/2020, được miễn nghĩa vụ thi hành án số tiền 2.790.000 đồng ngày 22/7/2022; (Bị cáo tái phạm nguy hiểm).

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • - Ngày 20/8/2002, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại các điểm a, c, i khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự; chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/10/2002, được miễn thi hành án án phí số tiền 50.000 đồng ngày 19/01/2009 (Bản án số 193/HSPT).
  • - Ngày 26/7/2024, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố T khởi tố về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố T, tỉnh Bình Dương từ ngày 24/7/2024 cho đến nay, có mặt.

- Người làm chứng: Ông Trần Minh M; ông Nguyễn Văn T2; ông Nguyễn Văn Q; ông Trần Quốc C; ông Kim T3; bà Nguyễn Ngọc H; ông Huỳnh Thanh T4, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và biễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tháng 3/2024, bị cáo Nguyễn Thành T mượn đất nhà bà Dương Thị Xuân A tại khu phố E, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương để nuôi gà. Đến tháng 5/2024, bà A không cho T nuôi gà nữa nên yêu cầu Trung dời đi nhưng T chưa dời hết gà đi được. Thời gian này, T thấy các ông Nguyễn Văn Q và Trần Minh M thường đến nhà bà A chơi và chuồng gà của T có dấu hiệu bị đập phá nên nghi ngờ ông Q và ông M đã phá tài sản của T. Ngày 21/7/2024, T gặp ông Q yêu cầu đền bù tài sản bị đập phá và hai bên xảy ra xô sát, T dùng bình xịt hơi cay xịt vào mặt ông Q.

Khoảng 20 giờ ngày 22/7/2024, khi ông Q, ông M cùng các ông Kim T3, Nguyễn Văn T2, Trần Quốc C và Huỳnh Thanh T4 đang uống cà phê tại quán Gió trên đường P thuộc khu phố C, phường U, thành phố T thì thấy T điều khiển xe mô tô biển số 60H1-396.51 chạy ngang qua, nhóm của ông Q liền chạy theo đuổi đánh nhưng T tăng tốc xe chạy thoát.

Vì bị rượt đuổi nên T nảy sinh ý định lấy hung khí quay lại trả thù nhóm ông Q. Do trước đó, T nhặt được 01 cây súng và 04 viên đạn trên địa bàn phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai rồi cất giấu tại chỗ ở của mình tại khu nhà ở của Công ty TNHH MTV T5 thuộc khu phố B, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương nên T điều khiển xe mô tô về chỗ ở lấy cây súng tự chế màu đen, bình xịt hơi cay, ná thun và dao tự chế bỏ vào túi nilong màu đen và 04 viên đạn bỏ vào túi quần rồi điều khiển xe quay lại quán cà phê G. Khi thấy nhóm ông Q đang ngồi trong quán, T dựng xe mô tô giữa đường, lấy súng và lắp viên đạn vào súng để bắn nhóm của ông Q nhưng do T gấp gáp nên viên đạn rơi xuống đất. Các ông Q, M, T3, T2 và T4 thấy T cầm súng nên liền cầm ghế đuổi đánh, T bỏ chạy về hướng công viên cạnh bờ sông Đ ném súng xuống sông nhưng súng bị vướng vào lan can và rơi xuống đất. Sợ bị nhóm của ông Q đánh nên T nhảy xuống sông để thoát thân và được người dân cứu lên, đưa đến Trung tâm y tế thành phố T cấp cứu và báo tin cho Công an phường U giải quyết. Nhóm của ông Q khi đuổi theo T đến bờ sông, thấy khẩu súng dưới đất nên nhặt lên, đem đến đặt cạnh xe của T.

- Căn cứ Kết luận giám định số 3742/KL-KTHS(SĐ) ngày 23/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:

  • + Khẩu súng gửi giám định (ký hiệu A1) là vũ khí có tính năng tác dụng tương tự vũ khí quân dụng và thuộc nhóm vũ khí quân dụng. Sử dụng khẩu súng gửi giám định (ký hiệu A1) bắn với đạn ghém cỡ 12 trúng cơ thể người có thể gây thương tích hoặc tử vong.
  • + 04 (bốn) viên đạn gửi giám định (ký hiệu A2, A3 và A4) là đạn ghém tự chế, có tính năng tác dụng tương tự súng săn, không phải vũ khí quân dụng. Loại đạn này sử dụng để bắn được cho khẩu súng gửi giám định (ký hiệu A1) và một số súng tự chế có đường kính buồng đạn phù hợp. Bắn trúng cơ thể người có thể gây thương tích hoặc tử vong.

- Căn cứ Kết luận giám định số 3955/KL-KTHS ngày 04/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Trong mẫu vật 01 (một) USB có chữ Kingston, dung lượng 4GB (ký hiệu A) có chứa 02 (hai) tập tin video ghi nhận nội dung sự việc T sử dụng súng và bị nhóm của ông Q đuổi đánh.

Cáo trạng số 77/CT-VKSBD-P1 ngày 19 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Thành T về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại điểm h khoản 2 Điều 304 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương (được Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phân công thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án) trong phần tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về trách nhiệm hình sự: tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
  • - Về hình phạt: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T mức hình phạt từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm 06 tháng tù.
  • - Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự ; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Giao cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B 01 (một) khẩu súng bằng kim loại, màu đen hiện đang được bảo quản tại kho vũ khí - đạn Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B để xử lý theo quy định.

Đối với 04 (bốn) viên đạn bằng kim loại, màu vàng (đã dùng để bắn thực nghiệm, phục vụ hết cho công tác giám định) nên không đề cập xử lý.

Đối với bình xịt hơi cay, ná thun và con dao tự chế do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tạm giữ sẽ được xử lý trong vụ án “Gây rối trật tự công cộng”.

Đối với hành vi “Gây rối trật tự công cộng” của Nguyễn Thành T, Nguyễn Văn Q, Trần Minh M, Kim T3, Nguyễn Văn T2, Trần Quốc C và Huỳnh Thanh T4 được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T khởi tố, điều tra để giải quyết bằng vụ án khác.

Bị cáo Nguyễn Thành T không trình bày lời bào chữa.

Nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi sai trái của mình nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thành T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội ngày 22/7/2024 tại khu phố C, phường U, thành phố T. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm; biên bản khám nghiệm hiện trường;kết luận giám định súng, đạn; kết luận giám định trích xuất hình ảnh; lời khai của bị cáo và những người làm chứng tại cơ quan điều tra; biên bản hỏi cung bị can cùng những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 20 giờ ngày 22/7/2024, bị cáo Nguyễn Thành T điều khiểu xe mô tô hiệu Vision biển số 60H1-396.51 đem theo khẩu súng là vũ khí quân dụng và 04 viên đạn (đã nhặt được trước đó trên địa bàn phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) đến trước quán cà phê G tại đường P thuộc khu phố C, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương với mục đích giải quyết mâu thuẫn với nhóm của Nguyễn Văn Q thì bị ngăn chặn, không để xảy ra hậu quả. Kết luận giám định số 3742/KL-KTHS(SĐ) ngày 23/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Khẩu súng gửi giám định (ký hiệu A1) là vũ khí có tính năng tác dụng tương tự vũ khí quân dụng và thuộc nhóm vũ khí quân dụng. Sử dụng khẩu súng gửi giám định (ký hiệu A1) bắn với đạn ghém cỡ 12 trúng cơ thể người có thể gây thương tích hoặc tử vong. 04 (bốn) viên đạn gửi giám định (ký hiệu A2, A3 và A4) là đạn ghém tự chế, có tính năng tác dụng tương tự súng săn, không phải vũ khí quân dụng. Loại đạn này sử dụng để bắn được cho khẩu súng gửi giám định (ký hiệu A1) và một số súng tự chế có đường kính buồng đạn phù hợp. Bắn trúng cơ thể người có thể gây thương tích hoặc tử vong.

Do đó, hành vi mà bị cáo Nguyễn Thành T thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” được quy định tại điểm h khoản 2 Điều 304 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) với tình tiết định khung hình phạt là “Tái phạm nguy hiểm”. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Hành vi “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” của bị cáo Nguyễn Thành T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến hoạt động quản lý và sử dụng vũ khí quân dụng của Nhà nước; gây hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn tại địa phương; có khả năng xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác; gây tâm lý lo lắng cho quần chúng, nhân dân. Về nhận thức, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn giải quyết mâu thuẫn với người khác mà bị cáo bất chấp sự trừng phạt của pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp là cất giữ, mang theo trong người vũ khí quân dụng khi không được Nhà nước cấp phép với mục đích bắn người khác nhưng không thành. Do đó, để có tác dụng giáo dục bị cáo, đồng thời nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm chung, cần có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Căn cứ tính chất, mức độ; động cơ, mục đích của hành vi; tiền án; nhân thân; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; xét mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt đối với bị cáo tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Đối với hành vi “Gây rối trật tự công cộng” của Nguyễn Thành T, Nguyễn Văn Q, Trần Minh M, Kim T3, Nguyễn Văn T2, Trần Quốc C và Huỳnh Thanh T4, ngày 26/7/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và các quyết định khởi tố bị can để giải quyết bằng vụ án khác.

[8] Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Đối với 01 (một) khẩu súng bằng kim loại, màu đen ký hiệu “A1”, cấp 5 hiện đang được bảo quản tại kho vũ khí - đạn Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B cần giao cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B xử lý theo quy định.
  • - Đối với 04 (bốn) viên đạn bằng kim loại, màu vàng (đã dùng để bắn thực nghiệm, phục vụ hết cho công tác giám định) nên không đề cập xử lý.
  • - Đối với bình xịt hơi cay, ná thun tự chế bằng kim loại, con dao tự chế do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T thu giữ cần tiếp tục tạm giữ để xử lý trong vụ án “Gây rối trật tự công cộng”.

[9] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ các Điều 136, 260, 268, 269, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
  2. Về hình phạt: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T 06 (Sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/7/2024.
  3. Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:
    • - Giao Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Bình Dương 01 (một) khẩu súng bằng kim loại, màu đen ký hiệu “A1”, cấp 5 hiện đang được bảo quản tại kho vũ khí - đạn Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B để xử lý theo quy định.
    • (Theo Lệnh nhập kho số 28/NK-VC của kho vũ khí – đạn và biên bản bàn giao vật chứng ngày 10/12/2024 tại kho vũ khí - đạn Phòng hậu cần – kỹ thuật thuộc Bộ chỉ huy quân sự tỉnh B).
    • - Tiếp tục tạm giữ bình xịt hơi cay hiệu TAKE DOWN; ná thun tự chế bằng kim loại; con dao tự chế bằng kim loại dài 22,7cm, cán dao bằng gỗ dài 7,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 15,2cm do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T thu giữ để xử lý trong vụ án “Gây rối trật tự công cộng”.
    • (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên).
  4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

    Buộc bị cáo Nguyễn Thành T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Tân Uyên;
  • - Phân trại tạm giam khu vực thành phố Tân Uyên;
  • - Chi cục THADS thành phố Tân Uyên;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: VT, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thành Hiệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2025/HS-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về vụ án hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng)

  • Số bản án: 55/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger