|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 55/2025/HS-PT |
|
|
Ngày: 25 – 3 – 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh.
Các Thẩm phán: Ông Lê Khắc Thịnh.
Ông Phạm Minh Tùng.
- Thư ký phiên tòa:
Bà Phan Thị Kim Loan - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị Ngọc Quí - Kiểm sát viên.
Ngày 05 và ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 13/2025/TLPT-HS ngày 21/01/2025 đối với bị cáo Tưởng Trọng N, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 78/2024/HS-ST ngày 18/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
Bị cáo kháng cáo:
Tưởng Trọng N, sinh ngày 01/01/1976 tại tỉnh Đồng Tháp; giới tính: Nam; nơi thường trú: Số F, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; chỗ ở: Số I, ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Làm thuê; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Tưởng Văn N1, sinh năm 1944 (chết) và con bà Phạm Thị Loan A, sinh năm 1944; có vợ và có 01 con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Tạm giữ: Không; Tạm giam: Không. Bị cáo đang tại ngoại (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Ngoài ra, trong vụ án còn có bị hại Võ Hồng N2 không kháng cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Đặng Thanh P không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 02 giờ, ngày 19/8/2024, Tưởng Trọng N cùng vợ là bà Nguyễn Thị Hồng P1 đến Khoa sản Bệnh viện Đ thuộc khóm H, Phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp để thăm người thân sinh con. Tại thời gian này anh Nguyễn Đặng Thanh P cũng chở vợ là chị Võ Hồng N2 đến Khoa sản để sinh con, khi chị N2 vào phòng chờ sinh để bác sĩ khám thì chị N2 có đưa 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung Galaxy A53 5G, kèm theo ốp lưng điện thoại và phôi sim cho anh P quản lý và trông giữ.
Anh P cầm điện thoại trên tay đi ra ngoài trước phòng chờ sinh trải chiếu nằm ngủ và để điện thoại rơi xuống chiếu sát người anh P. Cùng lúc này N nhìn thấy điện thoại của anh P nên N đi đến lấy cất giấu trong túi áo khoác mà N đang mặc rồi nhanh chóng rời khỏi hiện trường. Sau khi lấy được điện thoại của anh P thì N tháo ốp lưng và sim điện thoại ném bỏ.
Anh Nguyễn Đặng Thanh P khi phát hiện bị mất điện thoại đã trình báo sự việc cho Công an P2, thành phố S. Qua xác minh, Công an xác định Tưởng Trọng N là người lấy điện thoại. Đến ngày 22/8/2024, Tưởng Trọng N tự nguyện đem 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung Galaxy A53 5G mà N đã lấy của anh P giao nộp cho Cơ quan Công an tạm giữ để giải quyết theo quy định. Cơ quan Công an tạm giữ 01 tệp video có ghi hình liên quan đến hành vi phạm tội của Tưởng Trọng N, được trích xuất từ Camera trước phòng chờ sinh của K sản Bệnh viện Đ làm căn cứ giải quyết vụ án.
Tại kết luận định giá tài sản số 45/KL-HĐĐGTS ngày 13/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố S, kết luận:
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy A53 5G có giá trị 3.366.666 đồng.
- - 01 ốp lưng điện thoại di động nhãn hiệu DADA có giá trị 30.666 đồng.
- - 01 phôi sim, số thuê bao 0833754996 có giá trị 25.000 đồng.
Tổng trị giá tài sản là 3.422.332 đồng.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã hoàn trả 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy A53 5G cho chị Võ Hồng N2 nhận lại xong.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 78/2024/HS-ST ngày 18/12/2024 của Toà án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Tưởng Trọng N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Tưởng Trọng N 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí và nêu quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Đến ngày 20/12/2024, bị cáo Tưởng Trọng N kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Tưởng Trọng N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thừa nhận Bản án hình sự sơ thẩm số 78/2024/HS-ST ngày 18/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp kết án bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng. Bị cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo xin được hưởng án treo với lý do bị cáo không có tiền án, tiền sự, bị cáo phạm tội lần đầu, bị cáo có bệnh, đang nuôi mẹ bị bệnh, hiện nay bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn.
Tại phiên toà phúc thẩm, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm, phân tích các tình tiết và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đánh giá kết quả xét xử tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm và khẳng định việc Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp kết án bị cáo Tưởng Trọng N phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng quy định của pháp luật. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã có xét đến nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, nên hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo N là phù hợp. Toà án cấp sơ thẩm áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 03 tháng tù là mức hình phạt tù thấp hơn mức thấp nhất của khung hình phạt mà bị cáo bị truy tố, xét xử, là có chiếu cố cho bị cáo. Nay bị cáo kháng cáo có nêu các tình tiết hoàn cảnh khó khăn, bị cáo bị bệnh, mẹ của bị cáo bị bệnh. Tuy nhiên do hình phạt đã phù hợp, nên Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo N, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.
Tại phần tranh luận, bị cáo Tưởng Trọng N không tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo vì bị cáo rất hối hận, bị cáo có đến gia đình của bị hại để xin lỗi, bị cáo bị bệnh, mẹ của bị cáo cũng bị bệnh, bị cáo là người nuôi dưỡng, bị cáo hứa sẽ làm công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Bị cáo Tưởng Trọng N là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi, biết trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng vào lúc 04 giờ 45 phút ngày 19/8/2024, tại Khoa sản Bệnh viện Đ, thuộc khóm H, Phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp, bị cáo Tưởng Trọng N đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung Galaxy A53 5G, kèm theo ốp lưng điện thoại và phôi sim của chị Võ Hồng N2 đang giao cho chồng là anh Nguyễn Đặng Thanh P quản lý. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt theo định giá là 3.422.332 đồng. Hành vi của bị cáo N đã xâm hại đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, là khách thể quan trọng được pháp luật hình sự bảo vệ. Vì vậy, Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp kết án bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự tại Bản án hình sự sơ thẩm số 78/2024/HS-ST ngày 18/12/2024 là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2] Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo do bị cáo bồi thường cho bị hại được số tiền 300.000 đồng, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại có đơn xin bãi nại đối với bị cáo, để giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Từ đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt 03 tháng tù đối với bị cáo, đây là mức hình phạt tù dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định, mức hình phạt được áp dụng đã có chiếu cố cho bị cáo và phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Nay, bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo với lý do hoàn cảnh gia đình khó khăn và neo đơn, bị cáo bị bệnh, mẹ của bị cáo bị bệnh. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy mức hình phạt mà Toà án cấp sơ thẩm xét xử là đã phù hợp như phân tích ở trên, nên không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Tưởng Trọng N.
[3] Xét thấy phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên toà phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo là có căn cứ chấp nhận.
[4] Do kháng cáo của bị cáo Tưởng Trọng N không được chấp nhận, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Tưởng Trọng N.
Giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 78/2024/HS-ST ngày 18 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp về phần hình phạt đối với bị cáo Tưởng Trọng N.
2. Tuyên bố bị cáo Tưởng Trọng N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Tưởng Trọng N 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/02/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Tưởng Trọng N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tuấn Anh |
Bản án số 55/2025/HS-PT ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 55/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tưởng Trọng N
