Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2025/HS-ST

Ngày: 19-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Định

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Bảo

Bà Trịnh Thị Lan

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Công Thương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Ngô Đức Sang - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 38/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn T, sinh ngày 26 tháng 9 năm 1981 tại: tỉnh Hà Nam; số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, huyện B, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T1 và bà Nguyễn Thị V; có vợ Trương Thị H và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 14-10-2011 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; ngày 25-6-2018 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17-12-2024, chuyển tạm giam từ ngày 26-12-2024 cho đến nay tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố N. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng: Ông Trần Văn Đ, ông Vũ Duy T2 (không triệu tập đến phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 15 phút ngày 17-12-2024, tổ công tác Công an phường Q, thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa số nhà E đường Đ, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định phát hiện Phạm Văn T điều khiển xe máy biển kiểm soát 18P7-1096 có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra, T đã cho 01 gói quấn bên ngoài bằng băng dính màu đỏ vào miệng nhai thì bị tổ công tác phát hiện yêu cầu T nhả ra. T đã tự giác nhả từ trong miệng ra và giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác đã thu giữ và tiến hành mở kiểm tra qua 02 lớp bắng dính màu đỏ và màu đen là túi nilong màu trắng, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng. (T khai là H1 mua về để sử dụng). Tổ công tác đã thu giữ, niêm phong vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Phạm Văn T. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ T và 01 xe máy Honda Wave, màu đen, biển kiểm soát 18P7-1096 (đã cũ).

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Văn T khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 17-12-2024, T điều khiển xe máy biển kiểm soát 18P7-1096 đi từ nhà đến khu vực đường H, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định gặp một người đàn ông (không rõ tên tuổi, địa chỉ) mua một gói ma túy với giá 200.000 đồng. Sau đó T dùng băng dính màu đen quấn bên ngoài túi ni long màu trắng và tiếp tục dùng băng dính màu đỏ quấn bên ngoài lớp băng dính màu đen rồi cầm trong tay trái, điều khiển xe máy đi tìm nơi sử dụng. Khi T đi đến trước cửa số nhà E đường Đ, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định thì bị tổ công tác phát hiện và bắt quả tang như đã nêu trên.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã ra quyết định trưng cầu giám định vật chứng thu giữ. Tại bản kết luận giám định số 67/KL-KTHS ngày 24-12-2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 túi ni lông màu trắng (bên ngoài bọc lớp 02 lớp băng dính màu đỏ và màu đen) thu giữ của Phạm Văn T gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Khối lượng mẫu: 0,196 gam.

Đối với đối tượng đã bán ma túy cho Phạm Văn T, hiện tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ kết luận nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã tách ra tiếp tục điều tra xử lý sau.

Bản cáo trạng số 57/QĐ-VKSTP ngày 26-02-2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn T đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân như bản cáo trạng đã nêu.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Phạm Văn T tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Văn T từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù.
  • - Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật'

Bị cáo Phạm Văn T nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Văn T trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 17-12-2024; biên bản niêm phong tài liệu, đồ vật bị tạm giữ ngày 17-12-2024; bản kết luận giám định số 67/KL-KTHS ngày 24-12-2024 của Phòng K Công an tỉnh N; lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở khẳng định: Vào hồi 13 giờ 15 phút, ngày 17-12-2024, tại khu vực trước cửa số nhà E đường Đ, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định, bị cáo Phạm Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,196 gam Heroine để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo Phạm Văn T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy bị cáo Phạm Văn T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì bị cáo Phạm Văn T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo sẽ được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Phạm Văn T không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về hình phạt:

Hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Văn T là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N, bị cáo là đối tượng có nhân thân xấu, đã 02 lần bị đưa ra xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để ăn năn hối cải mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện bản chất coi thường pháp luật nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, với mức hình phạt tương xứng đối với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Xét thấy bị cáo Phạm Văn T không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử sẽ không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

Số ma túy Heroine thu giữ của bị cáo Phạm Văn T là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.

Đối với chiếc xe máy Honda Wave, màu đen, biển kiểm soát 18P7-1096, Cơ quan điều tra đã xác minh nguồn gốc, xác định đây là tài sản hợp pháp của bị cáo nên Hội đồng xét xử sẽ trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[7] Về án phí: Bị cáo Phạm Văn T bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
    • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
    • Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17-12-2024.
  2. Xử lý vật chứng:
    • - Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự;
    • - Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy gói ma túy trong 01 phong bì niêm phong số 67/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh N.

    Trả lại cho bị cáo 01 xe máy Honda Wave, màu đen, biển kiểm soát 18P7-1096 (đã cũ), nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

    (Theo quyết định chuyển vật chứng số 41/QĐ-VKSTPND ngày 26-02-2025 của Viện Kiểm Sát nhân dân thành phố Nam Định).

  3. Án phí:
    • - Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
    • - Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Bị cáo Phạm Văn T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Quyền kháng cáo:

    Bị cáo Phạm Văn T có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo Phạm Văn T có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND TP. Nam Định (02 bản);
  • - Công an TP. Nam Định;
  • - Chi cục THADS TP. Nam Định;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị Thu Định

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 55/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger