Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 55/2025/HS-ST

Ngày: 18-03-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Thị Ngọc Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Thái Hoàn Xanh
  2. Ông Nguyễn Văn Hoàng

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Hải – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Võ Thắng T – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 50/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Hữu N, sinh năm 1992, tại Hậu Giang; Thường trú: Ấp M, thị trấn C, huyện P, tỉnh Hậu Giang; nơi ở: F P, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D (chết) và bà Võ Thị Ánh H (chết); hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ con; Tiền án: không; tiền sự: không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/9/2024 – Có mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Đinh Vân L
  2. Địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình – Vắng mặt

  3. Ông Trần Văn L1, sinh năm 1987
  4. Địa chỉ: F P, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. – Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 15/9/2024, Nguyễn Hữu N có nhu cầu sử dụng ma túy nên đã liên hệ với H1 (không rõ lai lịch) qua số điện thoại 0906.730.xxx để hỏi mua 100.000 đồng ma túy đá, thì H1 đồng ý và hẹn gặp N tại trước địa chỉ 2 V, phường P, quận T. Tại địa chỉ trên, H1 đã đưa cho N 01 túi nilon chứa ma túy đá và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Sau đó, N về phòng trọ tại địa chỉ F P, phường P, quận T để cất giấu, không cho ai biết. Ngày 19/9/2024, khi đang ở phòng trọ một mình, Nguyễn Hữu N đã lấy ma túy và bộ D1 sử dụng ma túy đã mua của H1 để sử dụng. Do lần đầu sử dụng ma túy, N thấy chóng mặt và buồn ngủ, nên đã đi ngủ, lúc này trong bộ dụng cụ sử dụng ma túy vẫn còn một ít ma túy vẫn chưa sử dụng hết. Đến tối cùng ngày, Trần Văn L1 là bạn cùng thuê trọ về nhà thì thấy N đã ngủ, trong phòng có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy vẫn còn một ít ma túy nên đã tự ý lấy dùng thử, không cho ai biết.

Khoảng 20 giờ, ngày 22/9/2024, Nguyễn Hữu N tiếp tục liên hệ với H1 để hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá, thì H1 đồng ý và hẹn gặp N tại trước địa chỉ 2 V, phường P, quận T. Tại địa chỉ trên, H1 đã đưa cho N 01 túi nilon chứa ma túy đá, sau khi mua ma túy, N cất túi nilon chứa ma túy đá vào trong túi quần J ngắn bên phải, rồi đi về phòng trọ tại địa chỉ F P, phường P, quận T.

Khoảng 23 giờ, cùng ngày, Nguyễn Hữu N điều khiển xe gắn máy hiệu Exciter, màu xám, biển số 35B2-629.05, chở theo Trần Văn L1, khi tới trước số A T, phường T, quận T thì bị Tổ tuần tra 363 Công an quận T kiểm tra hành chính, phát hiện trong túi quần jeans bên phải của N có 01 túi nilon bên trong chứa ma túy đá, nên đã đưa N cùng tang vật về trụ sở làm việc.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Nguyễn Hữu N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trên.

Kết luận giám định số 11307/KL-KTHS, ngày 01/10/2024 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận:

“Tinh thể được ký hiệu mẫu m cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5933g (không phẩy năm chín ba ba gam), loại Methamphetamine.” (Bút lục số 22).

* Vật chứng thu giữ:

  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro, số Imei 1: 35640387172156; số Imei 2: 356403871521890, là điện thoại của Nguyễn Hữu N dùng để liên lạc mua ma túy để sử dụng.
  • - 01 (một) túi ni lông bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng, là ma túy thu giữ của Nguyễn Hữu N.
  • - 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, thu giữ của Nguyễn Hữu N.
  • - 01 xe gắn máy hiệu Exciter, màu xám, biển số 35B2-629.05, số máy: G304-936536; Số khung RLCHG1010KY169296. Qua xác minh, xe gắn máy trên do anh Đinh Vân L, cư trú tại Thôn N, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình đứng tên chủ sở hữu, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã tiến hành ủy thác điều tra, được biết anh L không còn sinh sống tại địa phương (Bút lục số 30, 31). Làm việc với Trần Văn L1 được biết L1 mua xe gắn máy trên từ người tên L (không rõ lai lịch) không làm hợp đồng mua bán. Hiện nay Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã đăng tin tìm chủ sở hữu đối với xe gắn máy trên tuy nhiên chưa có kết quả.

Hiện đang nhập kho theo phiếu nhập kho vật chứng số 250/PNK ngày 17/10/2024 của Cơ quan Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp Công an quận T

Tại Bản cáo trạng số: 68/CT-VKSQTP ngày 13/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh trình bày lời luận tội và đề nghị: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu N từ 02 năm đến 03 năm tù.

Về phần vật chứng vụ án đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hữu N thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Đánh giá hành vi, quyết định tố tụng:
  2. Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

  3. Đánh giá hành vi của bị cáo:
  4. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đủ cơ sở để xác định: Khoảng 23 giờ, ngày 22/9/2024, tại trước số A T, phường T, quận T, Nguyễn Hữu N bị Tổ tuần tra 363 Công an quận T kiểm tra hành chính, phát hiện đang tàng trữ 01 gói nilon, bên trong chứa ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5933g (không phẩy năm chín ba ba gam), loại Methamphetamine, để sử dụng, thì bị phát hiện. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú truy tố bị cáo N theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

    Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm; xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, không những gây ảnh hưởng đến trật tự, trị an, đến sức khỏe của con người, làm lây lan tệ nạn nghiện ngập ma túy trong xã hội mà còn là nguyên nhân phát sinh các tội phạm về ma túy và các tội phạm, tệ nạn xã hội khác. Bản thân bị cáo là người đã thành niên nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng do nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, bị cáo vẫn cố ý phạm tội, chứng tỏ ý thức xem thường pháp luật của bị cáo. Do đó, cần phải xử

phạt bị cáo để giáo dục bị cáo nói riêng và để đảm bảo việc đấu tranh, phòng chống tội phạm nói chung cho toàn xã hội.

Qua xác minh số điện thoại 0906.730.xxx do Nguyễn Hữu N cung cấp, được biết số điện thoại trên do Phạm Lê T1, cư trú tại Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã tiến hành ủy thác điều tra nhưng chưa có kết quả (Bút lục số 29, 33, 34). Do Nguyễn Hữu N không biết rõ nhân thân lai lịch của đối tượng tên H1, nên chưa làm việc được, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý sau. Do đó Hội đồng xét xử không xét.

Đối với Trần Văn L1 không biết, không tham gia, không được Nguyễn Hữu N rủ rê sử dụng ma túy, việc L1 sử dụng ma túy vào ngày 19/9/2024 là do L1 tự lấy sử dụng, N hoàn toàn không biết, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T không xử lý là có cơ sở. Do đó Hội đồng xét xử không xét.

  1. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:
  2. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

    Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo N tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

  3. Về hình phạt bổ sung:
  4. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Do đó miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

  5. Về xử lý vật chứng:
    • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro, số Imei 1: 35640387172156; số Imei 2: 356403871521890, là điện thoại của Nguyễn Hữu N dùng để liên lạc mua ma túy để sử dụng. Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật chứng dùng vào việc phạm tội do đó cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
    • - 01 (một) túi ni lông bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng, là ma túy thu giữ của Nguyễn Hữu N. Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật chứng cấm lưu hành do đó cần tịch thu tiêu hủy.
    • - 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, thu giữ của Nguyễn Hữu N. Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật chứng dùng vào việc phạm tội do đó cần tịch thu tiêu hủy
    • - 01 xe gắn máy hiệu Exciter, màu xám, biển số 35B2-629.05, số máy: G304-936536; Số khung RLCHG1010KY169296. Qua xác minh, xe gắn máy trên do anh Đinh Vân L, cư trú tại Thôn N, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình đứng tên chủ sở hữu, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã tiến hành ủy thác điều tra, được biết anh L không còn sinh sống tại địa phương (Bút lục số 30, 31). Làm việc với Trần Văn L1 được biết L1 mua xe gắn máy trên từ người tên L (không rõ lai lịch) không làm hợp đồng mua bán. Hiện nay Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã đăng tin tìm chủ sở hữu đối với xe gắn máy trên tuy nhiên chưa có kết quả. Hội đồng xét xử xét thấy đây là tài sản không rõ nguồn

gốc, chưa xác định được chủ sở hữu, do đó do đó cần thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng trong thời gian 06 tháng nếu chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp không đến nhận sẽ tịch thu nộp Ngân sách nhà nước.

  1. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ Điều 249 Bộ luật hình sự;
  2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  3. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự;
  4. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

    Thời hạn tù tính từ ngày 22/9/2024

    Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

  5. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) túi ni lông bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá
    • - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro, số Imei 1: 35640387172156; số Imei 2: 356403871521890.
    • - Giao cho Chi cục Thi hành án Dân sự quận Tân phú thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 06 tháng đối với: 01 xe gắn máy hiệu Exciter, màu xám, biển số 35B2-629.05, số máy: G304-936536; Số khung RLCHG1010KY169296. Nếu hết thời hạn 06 tháng mà không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp không đến nhận thì tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
    • (Tất cả vật chứng trên Phiếu nhập kho vật chứng số: 250/PNK ngày 17/10/2024 của Đội Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp công an quận T).
  6. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 13/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  7. Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

    Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  8. Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  9. Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp. Hồ Chí Minh (1);
  • - VKSND Tp. Hồ Chí Minh (1)
  • - VKSND quận Tân Phú (3);
  • - THADS quận Tân Phú (1);
  • - THAHS quận Tân Phú (5);
  • - Phòng PC53 CA Tp. HCM (1);
  • - Trại tạm giam Chí Hòa – Phân
  • Trại khu vực Tân Phú (2);
  • - Bị cáo (1);
  • - Người có QLNVLQ (2)
  • - Sở Tư Pháp (1);
  • - Lưu: VT (1); hồ sơ vụ án (1). (20)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tô Thị Ngọc Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 55/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger