Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 55/2025/HS-ST

Ngày: 17-3-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Anh
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Hữu Tới
  • Bà Nguyễn Thị Nga
  • Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Bắc - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 259/2024/HSST ngày 31 tháng 12 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2025/HSST-QĐ ngày 05 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Dương Văn C, sinh ngày 18/4/1986 tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; CCCD số [...].

Nơi thường trú: Thôn E, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Dương Văn C1, sinh năm 1962; Con bà Trịnh Thị L, sinh năm 1966; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Có vợ là Nguyễn Thị M, sinh năm 1986; Có 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không

Bị bắt tạm giữ từ ngày 26/5/2024 đến ngày 01/6/2024 chuyển tạm giam.

Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

2. Lê Sỹ T, sinh ngày 19/04/1989 tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; CCCD số [...]

Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ văn hóa: Lớp 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Lê Sỹ T1 (đã chết); Con bà Phan Thị H, sinh năm 1965; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất.

Có vợ là Lê Thị T2; Có 03 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2024.

Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 11/3/2019, bị Công an huyện T, tỉnh Thanh Hoá xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Mua bán vận chuyển trái phép vật liệu nổ.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 26/5/2024 đến ngày 01/6/2024 chuyển tạm giam.

Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

3. Lê Xuân Đ, sinh ngày 04/11/1994 tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; CCCD số [...]

Nơi thường trú: Thôn H, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: Lớp 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Lê Xuân T3, sinh năm 1974; Con bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1975; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Có vợ là Nguyễn Thị T4, sinh năm 1995; Có 02 con, lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không

Bị bắt tạm giữ từ ngày 26/5/2024 đến ngày 01/6/2024 chuyển tạm giam.

Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

4. Nguyễn Thị M, sinh ngày 10/10/1986 tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nữ; tên gọi khác: Không; CCCD số [...]

Nơi thường trú: Thôn E, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: Lớp 03/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Duy M1 (đã chết); Con bà Lê Thị N1, sinh năm 1956; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba.

Có chồng là Dương Văn C, sinh năm 1986; Có 04 con, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 15/6/2020, bị Công an xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Gây mất trật tự công cộng.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 26/5/2024 đến ngày 01/6/2024 chuyển tạm giam.

Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

5. Nguyễn Anh T5, sinh ngày 01/7/1994 tại thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; CCCD số [...]

Nơi cư trú: Số nhà H D, phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: Lớp 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Đức C2 (đã chết); Con bà Nguyễn Thị Thùy D, sinh năm 1964; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba; Có vợ là Bùi Thị T6 (Đã ly hôn); Có 01 con, sinh năm 2018.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 25/5/2024 đến ngày 31/5/2024 chuyển tạm giam.

Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

6. Đỗ Minh D1, sinh ngày 04/02/1989 tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; CCCD số [...]

Nơi thường trú: Lô A, N, Khu Đô Thị X, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Đỗ Minh C3, sinh năm 1961; Con bà Nguyễn Thị T7, sinh năm 1964; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Có vợ là Nguyễn Cẩm T8 (đã ly hôn); Có 02 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 24/5/2024 đến ngày 02/6/2024 chuyển tạm giam.

Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

Người bào chữa cho các bị cáo

  1. Người bào chữa cho bị cáo Lê Sỹ T: Luật sư Nguyễn Gia T9 - Văn phòng L1, Đoàn luật sư tỉnh T.

    Địa chỉ: Số G đường L, phường B, TP T, tỉnh Thanh Hóa.

  2. Người bào chữa cho bị cáo Dương Văn C: Luật sư Trần Thị N2 Công ty L2, Đoàn luật sư tỉnh T.

    Địa chỉ: Lô A Khu đô thị Đ, đường D, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

  3. Người bào chữa cho bị cáo Lê Xuân Đ: Luật sư Nguyễn Thị H1 Công ty L3, Đoàn luật sư tỉnh T.

    Địa chỉ: SN A Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

  4. Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị M: Luật sư Trương Hùng B - Văn phòng L1, Đoàn luật sư tỉnh T.

    Địa chỉ: Số G đường L, phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

  5. Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Anh T5: Luật sư Mai Văn B1 - Văn phòng L1, Đoàn luật sư tỉnh T.

    Địa chỉ: Số G đường L, phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn T10, sinh năm 1985 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số B Đ, P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đối với hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý:

Khoảng 21 giờ ngày 23/5/2024, Lê Sỹ T rủ Dương Văn C, Lê Xuân Đ mua ma túy về nhà C để sử dụng, tiền mua ma túy sẽ chia đều cho ba người. Sau khi thống nhất, T chuyển khoản cho C 2.000.000đ để góp tiền mua ma túy. C gọi điện thoại cho Nguyễn Anh T5 để hỏi mua thuốc lắc và Ketamine. T rủ thêm Lê Đức T11, sinh năm 1985 ở xã X, huyện T đến nhà C để sử dụng ma túy. Sau đó Đ, T, T11 và C về nhà C tại thôn A, xã T, huyện T để sử dụng ma túy. Khi đến nhà C thì Đ, T, T11 lên phòng ngủ tầng 2 trước, còn C ở dưới chờ lấy ma túy. Khoảng 22h cùng ngày Đỗ Minh D1 gọi điện thoại bảo C ra trước ngân hàng A1 ở Đ để nhận ma tuý. Sau khi lấy được ma túy, C cầm ma túy lên phòng ngủ tầng 2 thì thấy Đ, T, T11 và Nguyễn Thị M đang ở trong phòng. C mở gói giấy đựng ma túy lấy 01 viên thuốc lắc sử dụng rồi để 03 viên còn lại và túi Ketamine xuống đệm cho mọi người sử dụng. Thuấn cầm đĩa sứ màu trắng lấy ở kệ bếp tầng 1 nhà C từ trước và bật lửa mang vào nhà tắm đốt nóng đĩa rồi mang ra để lên đệm, lấy túi Ketamine đổ lên đĩa, dùng thẻ nhựa (dạng thẻ thanh toán tiền điện) từ trong kệ tủ đầu giường để “xào” và chia đường Ketamine. Thuấn lấy tờ tiền mệnh giá 10.000đ trong ngăn tủ đầu giường cuộn tròn và dùng 02 đầu tẩu thuốc lá cố định thành ống hút rồi sử dụng hai đường Ketamine. Sử dụng xong, T để đĩa Ketamine lên đệm cho mọi người sử dụng. Lê Đức T11 có sử dụng ma túy thuốc lắc và Ketamine, đến khoảng 0giờ ngày 24/5/2024, T11 ra về. Khi sử dụng hết ma túy Ketamine, T bảo C gọi thêm 01 chỉ Ketamine để sử dụng tiếp. C gọi điện cho Nguyễn Anh T5 hỏi mua 01 chỉ ma tuý Ketamine. Khoảng 30 phút sau, C đi ra Chi nhánh ngân hàng A1 ở Đ lấy ma túy do T5 mang đến. C mang về nhà đưa cho T, T tiếp tục “xào ke”, “kẻ đường” cho các đối tượng sử dụng.

Trong khi sử dụng ma túy, Đ và T bảo C gọi thêm 02 nhân viên nữ đang làm ở quán nhà C lên cùng sử dụng ma tuý. C gọi điện thoại cho Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 13/9/2008 ở xã X, huyện T chở Vi Thị Hà V, sinh năm 17/7/2010 và Vy Thị Như Ý, sinh ngày 07/6/2011 (tính đến ngày 24/5/2024, Như Ý mới 12 tuổi 11 tháng 17 ngày) đều trú tại bản Cánh Tráp, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An đến nhà. C mở cửa cổng đưa V và Như Ý lên phòng tầng 2. Khi lên phòng thì Nguyễn Thị M bảo Như Ý đến ngồi với Đ, còn V đến ngồi với T mục đích cùng sử dụng, phục vụ Đ và T sử dụng ma tuý. Lúc này, Đ đưa đĩa Ketamine mời V và Như Ý sử dụng. Khi các đối tượng đang sử dụng ma túy thì Hoàng A nhắn tin cho Nguyễn Thị M qua messenger bảo “có còn ke không cho em xin đường”, M có nói với C về việc Hoàng A và Bảo N3 (tức Lâm Quốc B2, sinh năm 2007 ở xã T, huyện T) xin sang sử dụng ma tuý, C đồng ý. Khi Hoàng A và Lâm Quốc B2 đến, C xuống mở cửa và đưa hai người lên phòng tầng 2. C bảo T kẻ mấy đường Ketamine để Hoàng A và B2 sử dụng rồi C nằm ở giường còn mọi người về lúc nào C không rõ. Đến sáng ngày 24/5/2024, sau khi ngủ dậy, C dọn dẹp đĩa và dụng cụ các đối tượng dùng sử dụng ma túy.

Ngày 26/5/2024, Dương Văn C, Lê Sỹ T, Lê Xuân Đ, Nguyễn Thị M đầu thú khai nhận về hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với hành vi Mua bán trái phép chất ma tuý:

Khoảng đầu tháng 12/2023, Nguyễn Anh T5 lên mạng xã hội telegram làm quen với một người nam giới tên là T5 ở Hà Nội, qua nói chuyện biết T5 có ma tuý bán nên vào tháng 01/2024 (không nhớ ngày cụ thể) Anh T5 có hỏi mua của T5 50 gam Ketamine và hơn 100 viên thuốc lắc. T5 báo giá 70.000.000đ (bảy mươi triệu đồng) và hẹn Anh T5 ra bến xe G, thành phố Hà Nội để giao dịch. Anh T5 đi xe khách ra đến bến xe G gặp T5. Sau khi Anh T5 đưa tiền, T5 chỉ chỗ đặt ma tuý dưới thùng rác cách quán nước khoảng 30m. Lấy được ma tuý, về nhà Anh T5 chia nhỏ, cất giấu tại số nhà H D, phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa và trong người nhằm mục đích để bán kiếm lời. Ngoài ra T5 còn đưa cho Đỗ Minh D1 (là bạn của T5) 05 (năm) viên thuốc lắc để D1 cất giấu, khi nào có khách hỏi mua thì T5 sẽ gọi cho D1 đi bán.

Khoảng 21h ngày 23/5/2024, Nguyễn Anh T5 đang ở quán S ở số nhà E P, phường Đ, thành phố T (là nơi T5 thuê bán hàng) thì Dương Văn C dùng số điện thoại 0989.981.xxx gọi điện vào số điện thoại 0839.036.xxx của Anh T5 hỏi mua 04 (bốn) viên thuốc lắc và 01 (một) chỉ Ketamine. Anh T5 báo giá 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng)/01 viên thuốc lắc; 3.500.000₫ (ba triệu năm trăm nghìn đồng)/01 chỉ Ketamine và 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) tiền công giao ma túy. Anh T5 nhắn tin số tài khoản 1013916649 ngân hàng V1 của Anh T5 cho C để C chuyển tiền mua ma túy. C bảo Anh T5 mang ma túy đến trước ngân hàng A1 ở Đ thuộc xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa để giao cho C. Sau đó Anh T5 gọi điện cho Đỗ Minh D1 bảo D1 đến quán S mang ma túy đi giao cho C. Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 23/5/2024, D1 điều khiển xe mô tô đến quán S, Anh T5 đưa cho D1 01 gói giấy trắng bên trong có 04 viên thuốc lắc và 01 chỉ Ketamine và số điện thoại của C cho D1 và dặn D1 mang ma túy đến trước ngân hàng A1 thuộc xã T, huyện T rồi gọi điện thoại cho C để C ra lấy. D1 đã cầm gói ma túy đi huyện T giao cho C.

Khoảng 01 giờ ngày 24/5/2024, Dương Văn C tiếp tục gọi điện cho Nguyễn Anh T5 hỏi mua thêm 01 chỉ Ketamine. Anh T5 báo giá 01 chỉ Ketamine là 3.500.000đ (ba triệu năm trăm nghìn đồng) và 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) tiền công giao ma túy. C chuyển trước cho Anh T5 1.800.000đ (một triệu tám trăm nghìn đồng) vào tài khoản ngân hàng V1 của Anh T5 đã gửi trước đó. Sau khi nhận được tiền, Anh T5 lấy 01 chỉ ma túy Ketamine đựng trong túi nilong màu trắng, bắt xe taxi đi đến trước ngân hàng Al ở Đ, để giao cho C. Khi đến nơi Anh T5 gọi điện cho C ra lấy ma tuý, C trả thêm cho Anh T5 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) tiền mặt, còn nợ lại 700.000đ (bảy trăm nghìn đồng).

Khoảng 20 giờ ngày 24/5/2024, Nguyễn Anh T5 đang ở quán S thì Dương Văn C gọi điện cho Anh T5 hỏi mua 05 viên thuốc lắc và 01 chỉ Ketamine. T5 báo giá 01 viên thuốc lắc là 400.000₫ (bốn trăm nghìn đồng); 01 chỉ Ketamine có giá 3.500.000đ (ba triệu năm trăm nghìn đồng) và 500.000₫ (năm trăm nghìn đồng) tiền công giao ma túy, tổng số tiền là 6.000.000₫ (sáu triệu đồng). C chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng V1 của Anh T5 rồi bảo Anh T5 mang ma túy lên trước ngân hàng A1 ở Đ. Anh T5 gọi điện cho Đỗ Minh D1 đến quán S để lấy ma túy đi giao cho C. Tại đây Anh T5 đưa cho D1 một khẩu trang màu đen được gói lại bên trong có một gói giấy trắng chứa 05 viên thuốc lắc và 01 chỉ Ketamine rồi bảo D1 đem đến trước ngân hàng Al để giao cho C. Đến khoảng 22h cùng ngày, khi D1 đang đứng đợi để giao ma túy cho C thì lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang.

Ngày 25/5/2024, Nguyễn Anh T5 đến Cơ quan Công an đầu thú, khai nhận về hành vi mua bán trái phép chất ma túy của mình.

* Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Đỗ Minh D1:

  • - 01 khẩu trang màu đen được cuộn tròn, bên trong là giấy màu trắng chứa 05 (năm) viên nén màu xám và 01 (một) túi nilong màu trắng đựng chất tinh thể màu trắng;
  • - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Jupiter, màu đỏ đen, BKS: 59X1-46140; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu đen và số tiền 500.000đ (năm trăm ngàn đồng).

* Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đỗ Minh D1 thu giữ: 02 viên nén màu xám và 03 (ba) viên nén màu xanh.

* Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Anh T5 tại H D, phường P, thành phố T thu giữ:

  • - 01 (một) túi nilong màu trắng, dạng túi zip có viền màu đỏ, bên trong đựng các viên nén màu nâu;
  • - 01 (một) túi nilong màu trắng dạng túi zip có viền màu đỏ, bên trong đựng các viên nén màu xanh;
  • - 10 (mười) túi nilong màu trắng dạng túi zip có viền màu đỏ, bên trong mỗi túi đều chứa chất tinh thế màu trắng;

* Tiến hành khám xét khẩn cấp quán S tại số nhà E P, phường Đ, thành phố T, T5 đã tự nguyện giao nộp số ma tuý cất giấu trong người gồm:

  • - 01 (một) túi nilong màu trắng, bên trong đựng các viên nén màu xanh và màu xám;
  • - 03 (ba) túi nilong màu trắng, bên trong mỗi túi đựng chất tinh thể màu trắng.

* Tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở của Dương Văn C tại thôn A, xã T, huyện T thu giữ:

  • - 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng kích thước khoảng 20cm
  • - 01 thẻ nhựa khách hàng sử dụng điện hộ Lê Thị N1

* Vật chứng thu giữ khi tiếp nhận đầu thú đối với Nguyễn Anh T5, Dương Văn C, Lê Sỹ T, Lê Xuân Đ và Nguyễn Thị M:

  • - 01 điện thoại nhãn hiệu iphone 14 promax, màu tím của Nguyễn Văn T10.
  • - 01 điện thoại nhãn hiệu iphone 12 promax, màu vàng của Dương Văn C.
  • - 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO reno 8T, màu trắng của Lê Sỹ T.
  • - 01 điện thoại nhãn hiệu Masstel, màu xanh, máy bàn phím của Lê Sỹ T.
  • - 01 điện thoại nhãn hiệu iphone 13 promax, màu xanh của Lê Xuân Đ.
  • - 01 điện thoại nhãn hiệu iphone 12, màu đen của Nguyễn Thị M.

* Tại bản kết luận giám định số 2088/KL-KTHS ngày 30/5/2024 của phòng K Công an tỉnh T kết luận:

Đối với vật chứng thu giữ khi bắt quả tang và khám xét khẩn cấp nơi ở của Đỗ Minh D1 gồm: 05 viên nén màu xám có tổng khối lượng 2,255g là ma tuý loại MDMA; 01 túi nilon màu trắng đựng chất tinh thể màu trắng có tổng khối lượng 0,951g là ma tuý loại Ketamine; 02 viên nén màu xám có tổng khối lượng 0,901g là ma túy loại MDMA và 03 viên nén màu xanh có tổng khối lượng 1,185g là ma túy loại MDMA.

Đối với vật chứng thu giữ khi khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Anh T5:

  • - Các viên nén màu xám, màu xanh, màu nâu có tổng khối lượng 74,228g, là ma tuý loại MDMA;
  • - Chất tinh thể màu trắng, có tổng khối lượng 13,739g là ma tuý loại Ketamine.

* Tại bản kết luận giám định số 2096/KL-KTHS ngày 30/5/2024 của phòng K Công an tỉnh T kết luận:

  • - Tìm thấy chất ma tuý, loại MDMA, Ketamine trong mẫu nước tiểu thu của Dương Văn C, Lê Xuân Đ, Lê Sỹ T;
  • - Tìm thấy chất ma tuý, loại Ketamine trong mẫu nước tiểu thu của Vy Thị Như Ý, Vi Thị Hà V, Nguyễn Hoàng A, Lâm Quốc B2.
  • - Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy còn lại sau giám định và các vật chứng khác, Cơ quan điều tra chuyển đến Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa chờ xử lý.

Các tình tiết khác liên quan đến vụ án:

Đối với đối tượng tên T5 ở Hà Nội là người bán ma túy thuốc lắc và Ketamine vào tháng 01/2024 cho Nguyễn Anh T5: Anh T5 khai không biết họ, tên đầy đủ, địa chỉ cụ thể và số điện thoại của T5 ở đâu. Cơ quan điều tra chưa xác minh được đối tượng T5. Do đó, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ.

Đối với Lê Đức T11: Quá trình điều tra xác định, Lê Sỹ T khai nhận vào tối ngày 23/5/2024, T có rủ T11 cùng góp tiền mua ma tuý về nhà C để sử dụng thì T11 nói không có tiền, T bảo để anh em bỏ ra trước, khi nào có tiền T11 đưa lại cũng được. T11 khai nhận, tối ngày 23/5/2024 T có rủ T11 đến nhà C sử dụng ma tuý rồi T11 về trước không có việc T11 đồng ý góp tiền cùng T mua ma tuý về sử dụng. Dương Văn C và Lê Xuân Đ khai nhận không biết nội dung việc T và T11 gọi điện trao đổi nội dung góp tiền mua ma tuý về sử dụng tại nhà C, ngoài lời khai của Thuấn thì không có tài liệu, chứng cứ khác chứng minh hành vi phạm tội của Lê Đức T11. Tiến hành giám định nước tiểu đối với Lê Đức T11 kết quả âm tính. Do đó, không đủ căn cứ xử lý hình sự đối với Lê Đức T11 trong vụ án này.

Đối với Nguyễn Hoàng A đã có hành vi rủ Lâm Quốc B2 đến nhà Dương Văn C để sử dụng ma tuý. Nhưng tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, Hoàng A chưa đủ 16 tuổi, do đó Nguyễn Hoàng A không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”

Đối với Nguyễn Hoàng A và Lâm Quốc B2 đã có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” vào rạng sáng ngày 24/5/2024 tại nhà ở của Dương Văn C. Công an tỉnh T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Đối với Vi Thị Hà V, Vy Thị Như Ý đã có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” vào rạng sáng ngày 24/5/2024 tại nhà ở của Dương Văn C. Tại thời điểm V và Ý thực hiện hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, thì V và Ý đều chưa đủ 14 tuổi. Do đó căn cứ Điều 5, Luật xử lý vi phạm hành chính, Công an tỉnh T không ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Vi Thị Hà V và Vy Thị Như Ý mà ra thông báo cho gia đình, chính quyền địa phương biết để quản lý, giáo dục.

Tại cáo trạng số 07/CT-VKS-P1, ngày 27/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã truy tố:

Dương Văn C về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Lê Sỹ T, Lê Xuân Đ và Nguyễn Thị M về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015.

Nguyễn Anh T5 về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.

Đỗ Minh D1 về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015

Tại phiên tòa hôm nay

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa giữ nguyên Quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm d khoản 3 Điều 255; điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với Dương Văn C.

Áp dụng điểm d khoản 3 Điều 255; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với Lê Sỹ T, Lê Xuân Đ.

Căn cứ vào: điểm d khoản 3 Điều 255; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với Nguyễn Thị M.

Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với Nguyễn Anh T5.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với Đỗ Minh D1

Tuyên bố:

Dương Văn C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Lê Sỹ T, Lê Xuân Đ và Nguyễn Thị M phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Nguyễn Anh T5 và Đỗ Minh D1 phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy"

Đề nghị xử phạt bị cáo Dương Văn C mức án từ 15 năm 06 tháng đến 16 năm tù đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội.

Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Sỹ T mức án từ 15 năm đến 15 năm 06 tháng tù.

Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Xuân Đ mức án từ 15 năm đến 15 năm 06 tháng tù.

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị M mức án từ 09 năm đến 10 năm tù.

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T5 mức án từ 16 năm đến 17 năm tù.

Đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Minh D1 án từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự:

Phạt tiền bị cáo Nguyễn Anh T5 từ 10.000.000đ đến 15.000.000đ;

Phạt tiền bị cáo Đỗ Minh D1 từ 5.000.000đ đến 10.000.000đ;

Về xử lý về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và các dụng cụ đựng, sử dụng ma túy; Tịch thu bán nộp ngân sách nhà nước các điện thoại thu giữ của các bị cáo; truy thu số tiền bị cáo T5 bán ma túy mà có; trả lại cho chủ sở hữu 01 chiếc xe mô tô thu giữ của bị cáo D1, trả lại số tiền 500.000₫ cho bị cáo D1.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

- Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Dương Văn C: Đồng ý với tội danh và khung hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo. Bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Sau khi phạm tội, bị cáo đã đầu thú với cơ quan điều tra; Bị cáo có bác ruột là liệt sĩ và bà nội là Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Quá trình sinh sống tại địa phương đã có nghĩa cử cao đẹp cứu giúp người bị nạn và ủng hộ trẻ em nghèo mồ côi. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng mức án thấp hơn đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.

- Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Lê Sỹ T: Đồng ý với tội danh và khung hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo. Bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Sau khi phạm tội, bị cáo đã đầu thú với cơ quan điều tra. Bị cáo có chú ruột là Liệt sĩ. Bị cáo phạm tội đối với người dưới 13 tuổi là do nhầm lẫn về tuổi tác vì đối tượng có hình thức và thể trạng cao lớn. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng mức án thấp hơn đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.

- Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Lê Xuân Đ: Đồng ý với tội danh và khung hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo. Bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Sau khi phạm tội, bị cáo đã đầu thú với cơ quan điều tra; Bị cáo có ông chú là Liệt sĩ, ông nội là người có công với cách mạng. Quá trình sinh sống tại địa phương có đóng góp các quỹ từ thiện. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng mức án thấp hơn đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.

- Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị M: Đồng ý với tội danh và khung hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo. Bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Sau khi phạm tội, bị cáo đã đầu thú với cơ quan điều tra. Bị cáo có chồng cũng là bị cáo trong vụ án, bị cáo đang phải nuôi 4 con nhỏ. Bị cáo sinh ra và lớn lên trong một gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nghèo khổ, chỉ học đến lớp 3, nhận thức và hiểu biết về pháp luật còn hạn chế dẫn đến hành vi phạm tội. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, chiếu cố hoàn cảnh, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo có cơ hội về với gia đình, nuôi dạy con cái.

- Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Anh T5: Đồng ý với tội danh và khung hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo. Bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Sau khi phạm tội, bị cáo đã đầu thú với cơ quan điều tra. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng mức án thấp hơn đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.

Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo Đỗ Minh D1 đề nghị xem xét không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo làm nghề giao hàng, không có thu nhập ổn định, hoàn cảnh khó khăn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thừa nhận:

Ngày 23 và 24/5/2024, Nguyễn Anh T5 có hành vi bán trái phép ma túy cho Dương Văn C 03 lần. Ngoài ra T5 còn có hành vi cất giấu 74,228g ma túy loại MDMA và 13,73g ma túy loại Ketamine mục đích để bán kiếm lời. Đỗ Minh D1 giúp sức cho Nguyễn Anh T5 đi giao ma túy cho Dương Văn C 02 lần vào ngày 23/5/2024 và 24/5/2024 tại quốc lộ D thuộc địa phận thôn A xã T, huyện T. Vào khoảng 22h ngày 24/5/2024, khi D1 đang đợi để giao 2,255g ma tuý loại MDMA và 0,951g ma tuý loại Ketamine cho Dương Văn C thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Tổng khối lượng ma túy Nguyễn Anh T5 phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép chất ma túy là 76,483g loại MDMA và 14,69g Ketamine.

Dương Văn C thống nhất việc sử dụng ma túy, mua ma túy, gọi Vi Thị Như Ý1 (dưới 13 tuổi) đến sử dụng ma túy và cho các đối tượng sử dụng ma túy tại nhà của mình. Ngoài ra, đối với số ma túy 2,255g ma tuý loại MDMA và 0,951g ma tuý loại Ketamine mà Đỗ Minh D1 bị lực lượng Công an bắt quả tang khi đang đợi giao cho C, tuy C chưa nhận được ma túy nhưng C đã chuyển tiền cho Nguyễn Anh T5, nên C phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đối với số ma túy này ở giai đoạn phạm tội chưa đạt.

Lê Sỹ T góp tiền cho C để mua ma túy; thực hiện các công đoạn cho các đối tượng sử dụng. Lê Xuân Đ thống nhất việc sử dụng ma túy, bảo Dương Văn C gọi nhân viên đến để cùng sử dụng ma túy và bê đĩa Ketamine mời Vi Thị Như Ý1 sử dụng. Nguyễn Thị M có hành vi chỉ đạo Vi Thị Như Ý1 phục vụ Đ sử dụng ma túy.

Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Quyết định truy tố và lời luận tội của Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Dương Văn C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 255 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 và Điều 15 Bộ luật hình sự năm 2015; Lê Sỹ T, Lê Xuân Đ và Nguyễn Thị M đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015.

Nguyễn Anh T5 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.

Đỗ Minh D1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.

[3] Về trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Các bị cáo T5 biết rõ ma túy là một trong những tệ nạn nguy hiểm cho xã hội, gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng đến đời sống của nhiều gia đình. Ma túy đã làm kiệt quệ về sức khỏe và tài sản, là nguyên nhân làm gia tăng tội phạm, nhưng vì hám lời nên đã mua để bán ma túy. Bị cáo D1 vì hám lợi được trả công giao hàng giá cao nên đã nhận lời giao ma túy cho các đối tượng sử dụng. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý về các chất gây nghiện của Nhà nước và còn gây mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân.

Các bị cáo Dương Văn C, Lê Sỹ T, Lê Xuân Đ và Nguyễn Thị M nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nhưng vẫn thực hiện. Hành vi đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác của các bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý về các chất gây nghiện của Nhà nước, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người khác. Các bị cáo tổ chức sử dụng ma túy cho Vy Thị Như Ý, sinh ngày 07/6/2011 (tính đến ngày 24/5/2024, Như Ý mới 12 tuổi 11 tháng 17 ngày) là người dưới 13 tuổi nên phải chịu tình tiết định khung quy định tại điểm d khoản 3 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015.

Bị cáo C mặc dù chưa nhận được ma tuý nhưng đã chuyển khoản toàn bộ số tiền mua ma tuý. Việc C chưa nhận được ma tuý là do D1 bị bắt khi đứng chờ giao ma tuý cho C, ngoài ý muốn chủ quan của C nên C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt theo quy định tại Điều 15 Bộ luật hình sự.

[4] Xét vai trò các bị cáo:

Bị cáo C, T, Đ, M đồng phạm với nhau về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nhưng mang tính chất đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc và phân công nhiệm vụ. Bị cáo C cung cấp địa điểm, dụng cụ sử dụng ma túy, là người chủ động mua ma tuý hai lần và gọi nhân viên của mình chưa đủ 13 tuổi đến phục việc sử dụng ma túy nên có vai trò cao nhất. Bị cáo T và Đ tham gia tích cực nên có vai trò thứ hai; Bị cáo M không sử dụng ma tuý, chỉ sắp xếp chỗ ngồi cho các đối tượng nên có vai trò thấp hơn.

Bị cáo T5 là người trực tiếp mua ma túy về bán kiếm lời nên có vai trò chính; Bị cáo Đ đi giao ma túy lấy công nên có vai trò thấp hơn.

Bị cáo C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy với vai trò độc lập.

[5] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Dương Văn C, Lê Sỹ T, Lê Xuân Đ và Nguyễn Thị M không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo D1 thực hiện giao ma túy 02 lần cho bị cáo C nhưng là tình tiết định khung hình phạt nên không phải chịu tình tiết tăng nặng.

Bị cáo T5 thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy 03 lần cho C nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sư.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên được áp dụng chung tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Sau khi phạm tội, các bị cáo Dương Văn C, Lê Sỹ T, Lê Xuân Đ, Nguyễn Thị M và Nguyễn Anh T5 đã có đơn đầu thú khai báo hành vi phạm tội. Bị cáo Đ có ông nội là người có công với cách mạng; có ông chú là Liệt sĩ; bản thân bị cáo trong quá trình sinh sống tại địa phương đã đóng góp các quỹ từ thiện (Có xác nhận của BCH Đoàn xã X, huyện T) và đóng quỹ Xây dựng nông thôn mới (Có xác nhận của UBND xã X, huyện T). Bị cáo C trong quá trình sinh sống tại địa phương đã có nghĩa cử cao đẹp cứu giúp người bị đuối nước (Có xác nhận của UBND xã T, huyện T); Bị cáo có bác ruột là Liệt sĩ và bà nội là Bà mẹ Việt Nam anh hùng; Bị cáo còn tham gia ủng hộ tiền cho các trẻ em mồ côi tại Làng trẻ em SOS. Bị cáo M có bác ruột là Liệt sĩ, có bố đẻ là người có công với cách mạng (Có xác nhận của UBND xã X, huyện T); Bị cáo còn tham gia ủng hộ tiền cho các trẻ em mồ côi tại Làng trẻ em SOS. Bị cáo T có chú ruột là Liệt sĩ.

Do đó các bị cáo Dương Văn C, Lê Sỹ T, Lê Xuân Đ, Nguyễn Thị M và Nguyễn Anh T5 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đối với bị cáo Nguyễn Thị M phạm tội lần đầu, là người giúp sức trong vụ án nhưng có vai trò không đáng kể; Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, hiện đang nuôi 04 con nhỏ, chồng bị cáo cũng là bị cáo trong vụ án. Để thể hiện tính chất nhân đạo của pháp luật, áp dụng khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự, cho bị cáo được hưởng mức án dưới khung hình phạt như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhưng cần áp dụng mức án cao hơn đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.

[6] Về hình phạt bổ sung:

Bị cáo T5 bán trái phép chất ma túy nhằm mục đích lợi nhuận và đã thu lời bất chính nên ngoài hình phạt chính cần áp dụng hình phạt bổ sung, phạt bị cáo một khoản tiền để nộp ngân sách Nhà nước như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp. Tại phiên toà, bị cáo D1 trình bày làm nghề giao hàng cho khách, hoàn cảnh khó khăn; Bản thân bị cáo cũng chưa được hưởng lợi nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo D1.

Các bị cáo khác thực hiện hành vi không vì mục đích lợi nhuận nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy còn lại sau giám định là mặt hàng Nhà nước cấm lưu hành và những dụng cụ sử dụng ma tuý không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với các điện thoại thu giữ khi tiếp nhận đầu thú của Nguyễn Anh T5, Lê Sỹ T12, Dương Văn C và Nguyễn Thị M là các công cụ dùng để mua bán, tổ chức sử dụng ma tuý nên tịch thu bán nộp ngân sách nhà nước.

Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo, màu trắng thu giữ của Lê Sỹ T và 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 promax, màu vàng thu giữ của Lê Xuân Đ không sử dụng vào việc mua bán, tổ chức sử dụng ma tuý nên trả lại cho các bị cáo.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, màu đen, BKS: 59X1-46140, thu giữ của Đỗ Minh D1 sử dụng đi bán ma tuý. Tiến hành tra cứu chủ sở hữu tại Phòng PC08 kết quả chủ sở hữu chiếc xe máy trên là anh Nguyễn Văn T10, sinh năm 1985, trú tại số B Đ, P, TP Hồ Chí Minh. Tiến hành triệu tập làm việc Nguyễn Văn T10 khai nhận: Giữa T10 và Đỗ Minh D1 có quan hệ gia đình, D1 gọi T10 bằng cậu, do D1 không có xe đi lại nên T10 đã cho D1 mượn xe máy nhãn hiệu YAMAHA, màu đen, BKS: 59X1-46140 để đi lại. Việc D1 sử dụng xe máy mượn của T10 đi bán ma tuý thì T10 không biết và không tham gia. Anh T5 đề nghị được nhận lại chiếc xe này. Do đó trả lại chiếc xe cho anh Nguyễn Văn T10.

Đối với 500.000đ thu giữ của D1 là tiền cá nhân, không liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy nên trả lại cho bị cáo.

Số tiền bị cáo T10 bán ma tuý cho C là 14.900.000₫ là tiền phạm tội mà có nên truy thu để sung quỹ Nhà nước.

[8] Về các vấn đề khác:

Đối với Nguyễn Hoàng A đã có hành vi rủ Lâm Quốc B2 đến nhà Dương Văn C để sử dụng ma tuý. Nhưng tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, Hoàng A chưa đủ 16 tuổi, do đó Nguyễn Hoàng A không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” là đúng quy định của pháp luật.

Đối với Nguyễn Hoàng A và Lâm Quốc B2 đã có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” vào rạng sáng ngày 24/5/2024 tại nhà ở của Dương Văn C. Công an tỉnh T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định của pháp luật.

Đối với Vi Thị Hà V, Vy Thị Như Ý đã có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” vào rạng sáng ngày 24/5/2024 tại nhà ở của Dương Văn C. Tại thời điểm V và Ý thực hiện hành vi thì V và Ý đều chưa đủ 14 tuổi. Do đó Công an tỉnh T không ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Vi Thị Hà V và Vy Thị Như Ý mà ra thông báo cho gia đình, chính quyền địa phương biết để quản lý, giáo dục là đúng quy định của pháp luật.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: điểm d khoản 3 Điều 255; điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 15; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với Dương Văn C.

Căn cứ vào: điểm d khoản 3 Điều 255; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với Lê Sỹ T, Lê Xuân Đ.

Căn cứ vào: điểm d khoản 3 Điều 255; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với Nguyễn Thị M.

Căn cứ vào: điểm h khoản 3 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với Nguyễn Anh T5.

Căn cứ vào: điểm b khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với Đỗ Minh D1.

Tuyên bố:

Dương Văn C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Lê Sỹ T, Lê Xuân Đ và Nguyễn Thị M phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Bị cáo Nguyễn Anh T5 và Đỗ Minh D1 phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy".

Xử phạt:

  • - Bị cáo Dương Văn C 16 (Mười sáu) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp chung của cả hai tội là 17 (Mười bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/5/2024.
  • - Bị cáo Lê Sỹ T 15 (Mười lăm) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/5/2024.
  • - Bị cáo Lê Xuân Đ 15 (Mười lăm) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/5/2024.
  • - Bị cáo Nguyễn Thị M 12 (Mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/5/2024.
  • - Bị cáo Nguyễn Anh T5 16 (Mười sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/5/2024.
  • - Bị cáo Đỗ Minh D1 07 (B3) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/5/2024.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.

Phạt tiền bị cáo Nguyễn Anh T5 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu huỷ:

  • - 01 (một) Phong bì được dán kín niêm phong, mặt trước ghi: “Phòng CSMT(PC04) TC1287 ngày 26/5/2024". Mặt sau có các chữ ký chữ viết ghi rõ họ tên của Lê Minh T13, Lưu Bình N4, Hoàng Thị N5 và các hình dấu của Phòng KTHS Công an tỉnh T. (Kèm KLGĐ số 2095/KL-KTHS ngày 30/5/2024). (Theo bên giao bên trong là: 01 đĩa sứ, 01 thẻ nhựa)
  • - 01 (một) Phong bì được dán kín niêm phong, mặt trước ghi: “PC04 TC1286 ngày 25/5/2024". Mặt sau có các chữ ký chữ viết ghi rõ họ tên của Lê Minh T13, Nguyễn Văn T14 và các hình dấu của Phòng KTHS Công an tỉnh T. (Kèm KLGĐ số 2088/KL-KTHS ngày 30/5/2024).

Tịch thu, bán nộp ngân sách nhà nước:

  • - 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 promax, màu xám đen. Máy cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy bên trong thu của Đỗ Minh D1;
  • - 01(một) Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 promax, màu tím. Máy cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy bên trong; thu của Nguyễn Anh T5;
  • - 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 promax, màu vàng, mặt sau bị vỡ. Máy cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy bên trong; thu của Dương Văn C.
  • - 01(một) Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, màu đen. Máy cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy bên trong; thu của Nguyễn Thị M;
  • - 01(một) Điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu xanh, dạng bàn phím. Máy cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy bên trong cho Lê Sỹ T;

Trả lại:

  • - 01(một) Điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu trắng. Máy cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy bên trong cho Lê Sỹ T.
  • - 01(một) Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 promax, màu xanh, mặt sau điện thoại bị vỡ. Máy cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy bên trong cho Lê Xuân Đ;
  • - 01 (một) Xe máy nhãn hiệu Yamaha Jupiter, màu đen, BKS: 59X1-461.40. Xe cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy bên trong cho anh Nguyễn Văn T10.

Hiện số tang vật và tài sản đang được lưu giữ tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa theo Biên bản giao nhận vật chứng số 43/2025/TV-CTHADS ngày 27/12/2024 giữa Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa với Công an tỉnh T.

Trả lại cho bị cáo D1 số tiền 500.000đ (Năm trăm ngàn đồng) theo Giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 27/12/2024 của đơn vị nhận tiền là Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hoá với người nộp là Nguyễn Văn T14, Phòng PC04 - Công an tỉnh T.

Truy thu của bị cáo Nguyễn Anh T5 số tiền 14.900.000₫ (Mười bốn triệu chín trăm ngàn đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14. Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - CQ CSĐT CA tỉnh Thanh Hoá;
  • - Cơ quan THAHS;
  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Thanh Hóa;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Người bào chữa;
  • - Lưu HSVA;
  • - Lưu Tòa HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thị Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2025/HS-ST ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về vụ án hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 55/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, Mua bán ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger