Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 55/2025/HSST

Ngày: 13/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Phúc - Bí thư đoàn thanh niên phường Mộ Lao, quận Hà Đông.

- Bà Nguyễn Thị Thu Hương - Nguyên Phó Phòng Giáo dục Đào tạo quận Hà Đông.

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Hà Nội, Tòa án nhân dân quận Hà Đông xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 24/TLST-HS, ngày 12 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/QĐXXST- HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

1.Mã Văn H, sinh ngày 12/02/2008 tại tỉnh Lào Cai. Giới tính: Nam; Nơi thường trú: khu A, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ; nơi ở hiện tại: không xác định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Con ông: Mã Văn V, nơi thường trú: khu A, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Con bà: Điền Thị L, sinh năm 1979, nơi thường trú: không rõ; Vợ, con: chưa có.

Lần phạm tội lần thứ nhất ngày 02/12/2024, bị cáo 16 tuổi 09 tháng 20 ngày; Lần phạm tội lần thứ hai ngày 13/12/2024, bị cáo 16 tuổi 10 tháng 01 ngày.

Tiền án, Tiền sự: Không;

Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 261/2024/HSST ngày 17/9/2024 Toà án nhân dân quận Hà Đông xử phạt bị cáo 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, chưa chấp hành hình phạt. Thời gian đã tạm giữ của bản án 261 từ ngày 13/7/2024 đến ngày 22/7/2024.

Bị cáo đầu thú ngày 14/12/2024; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam số 2- Công an T3.

Có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Đắc L1, sinh năm 1992 tại Bắc Ninh. Giới tính: Nam. Nơi thường trú: thôn S, thị trấn G, huyện G, tỉnh Bắc Ninh; Nơi ở hiện nay: Căn hộ G, chung cư X, Khu đô thị M, phường Y, quận H, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo, đảng phái: không; Trình độ văn hóa: 09/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Con ông: Nguyễn Đắc L2, con bà: Vũ Thị L3; Có vợ: Ngô Thanh B và 02 con (con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2018).

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo đầu thú ngày 14/12/2024, bị tạm giữ từ ngày 15/12/2024, quyết định hủy bỏ biện pháp ngăn chặn ngày 17/12/2024. Hiện đang được áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 17/12/2024.

Có mặt tại phiên tòa.

* Người đại diện hợp pháp của bị cáo Mã Văn H

- Ông Mã Văn V (bố), sinh năm 1977; Trú tại: Khu A, L, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin vắng mặt.

*Người đại diện hợp pháp của bị cáo Mã Văn H

- Bà Trịnh Thị H1- Bí thư đoàn thanh niên phường P (Bí thư đoàn phường nơi có thẩm quyền điều tra)

Có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Mã Văn H: Bà Dương Bích H2 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố H.

Có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

1. Chị Lê Thu G, sinh năm 2006. Nơi thường trú: thôn V, tổ dân phố H, huyện C, thành phố Hà Nội.

Có mặt tại phiên tòa.

2. Anh Nguyễn Quang P, sinh năm 2002. Nơi thường trú: thôn P, xã M, huyện M, thành phố Hà Nội.

Vắng mặt và có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền chi tiêu cá nhân, trong thời gian từ ngày 02/12/2024 đến ngày 13/12/2024, Mã Văn H đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:

- Lần thứ nhất: Khoảng 03 giờ 00 phút sáng ngày 02/12/2024, sau khi chơi game tại khu vực phường P, H, Hà Nội, H đi bộ lang thang đến khu vực đường Q, phường L, quận H, thành phố Hà Nội với mục đích xem ai sơ hở để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Đến khoảng 04 giờ 00 phút sáng cùng ngày, H đi đến ngõ A đường Q, phường L, quận H, phát hiện thấy 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vison màu trắng BKS 29X1-616.40 của chị Lê Thu G đang dựng trước cửa nhà số D, xe không khoá cổ, không khoá càng, không có người trông giữ. H dắt xe máy của chị G đi ra khu vực ngã tư V và sử dụng điện thoại vào mạng xã hội Facebook hội nhóm “hội mua bán xe không giấy tờ” để tìm người mua thì tìm được số điện thoại của Nguyễn Đắc L1. H sử dụng tài khoản Telegram tên “H3” nhắn tin đến tài khoản Telegram của L1 với nội dung “em có chiếc xe Vison màu trắng không giấy tờ, anh có mua không”, L1 đồng ý và hẹn gặp H tại khu vực ngã tư V để xem xe.

Khoảng 08 giờ 00 phút cùng ngày, L1 đến chỗ hẹn để gặp H. Tại đây, L1 kiểm tra thấy xe máy trên không có chìa khoá, không đề nổ được. L1 hỏi H nguồn gốc chiếc xe thì H nói “xe mới nhảy được” (cả hai đều hiểu với nhau đây là chiếc xe máy do H trộm cắp mà có). Do hám lời L1 vẫn đồng ý mua và yêu cầu H sửa xe và đánh chìa khoá xe rồi mới trả tiền, H đồng ý. Sau đó, H ngồi trên chiếc xe máy BKS: 29X1-616.40 của chị G nhờ L1 điều khiển xe máy Airblade BKS: 26K1-003.85 của L1 dùng chân đẩy xe máy cho H đến khu vực chợ V1, phố P để tìm người đánh chìa khoá. Trên đường đi, L1 đưa cho H 500.000 đồng để đánh chìa khoá, hai bên thỏa thuận số tiền 500.000 đồng này sẽ trừ vào tiền mua bán chiếc xe. L1 đẩy xe cho H đến tiệm sửa khóa của anh Nguyễn Văn L4 (sinh năm 1986, nơi cư trú: xã V, huyện C, TP . Hà Nội) ở khu vực chợ V1 để đánh chìa khoá còn L1 đi về trước đồng thời dặn H khi nào xong thì ra quán C khu đô thị T, L, H, Hà Nội để giao nhận mua bán xe.

Sau khi đánh chìa khoá xong, do xe không nổ được nên H tiếp tục đến quán sửa xe trên phố P (H không nhớ rõ địa chỉ) để kích điện, thay cầu chì và điều khiển xe đến quán C để gặp L1. Tại đây H và L1 thỏa thuận mua bán chiếc xe máy trên với giá 3.000.000 đồng. Do L5 đã đưa trước 500.000 đồng, còn lại 2.500.000 đồng nên L5 đưa cho H 2.000.000 đồng tiền mặt và chuyển khoản số tiền 500.000 đồng cho H (từ số tài khoản 6011919999 của Ngân hàng B1 mang tên Nguyễn Đắc L1 đến số tài khoản 3389885587 mang tên Mã Văn H mở tại Ngân hàng T4). Sau khi giao dịch xong, L1 dặn H xóa hết tin nhắn trao đổi giữa L1 và H rồi cả hai đi về. Số tiền bán được xe H đã chi tiêu cá nhân hết.

Sau khi mua xe của H, Nguyễn Đắc L1 rao bán chiếc xe máy trên trang mạng xã hội facebook “Hội mua bán xe không giấy tờ” và hẹn bán chiếc xe cho người có tài khoản facebook tên “Co don” (không rõ nhân thân lai lịch cụ thể) tại khu vực Công viên T, D, H với giá 3.500.000 đồng, L1 hưởng chênh lệch số tiền 500.000 đồng và đã chi tiêu cá nhân hết.

- Lần thứ hai: Đêm ngày 12/12/2024, H chơi game tại quán G2 tại số B TT17 Khu đô thị V, phường P, quận H, TP Hà Nội. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 13/12/2024, do thiếu tiền chơi game nên H nảy sinh ý định trộm cắp xe máy của khách chơi trong quán để bán lấy tiền. Tại đây, H thấy có 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, sơn màu trắng, BKS 29H1-572.43 của anh Nguyễn Quang P, chiếc xe không khoá cổ, không khoá càng đang dựng phía góc trong cùng của quán game, H quan sát xung quanh thấy không có người, H tiến đến gần chiếc xe trên rồi dắt chiếc xe đi ra khỏi quán đến đường đôi phố C rồi đi sang đường N, phố N, H, Hà Nội. H dắt xe đến trước cửa quán game trên phố N rồi tiếp tục chơi game ở đó đến khoảng 08 giờ 00 phút cùng ngày rồi nhắn tin qua ứng dụng Telegram với Nguyễn Đắc L1 với nội dung chuyển khoản để H có tiền đánh chìa khoá. L1 hiểu việc H nhắn tin như vậy là do H tiếp tục trộm được xe máy và muốn bán cho L1. L1 nhắn tin bảo H chụp hình ảnh chiếc xe H vừa trộm cắp được. H chụp ảnh chiếc xe và gửi cho L1. Sau khi xem ảnh, L1 hẹn H 20 phút nữa ra quán C. H hiểu việc L1 hẹn là L1 đã đồng ý mua xe H trộm cắp được. Tuy nhiên, sau đó, H nhận thức được hành vi trộm cắp của mình là sai nên đã không bán chiếc xe này cho L1. L1 cũng chưa chuyển tiền cho H để mua chiếc xe trên.

Ngày 14/12/2024, H đến Công an phường P xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản.

* Nguyễn Đắc L1 khai:

Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 02/12/2024, qua mạng xã hội Facebook trên nhóm ‘mua bán xe không giấy tờ”, L1 thấy H đăng bán xe máy, L1 đã liên hệ với H và nói chuyện với H từ tài khoản Telegram của L1 với tài khoản T có tên “Hungcoi” của H. H nói với L1 có chiếc xe máy muốn bán, L1 đồng ý và hẹn gặp H ở ngã tư V. Khi hai bên gặp nhau, L1 thấy xe máy là xe Honda Vision, màu trắng, biển kiểm soát 29X1-616.40, xe không có giấy tờ. L1 hỏi H nguồn gốc chiếc xe, H nói xe H vừa nhảy được, hai bên đều hiểu là chiếc xe máy do H trộm cắp. Do hám lời, L1 vẫn đồng ý mua và yêu cầu H sửa xe và đánh chìa khoá xe rồi mới trả tiền, H đồng ý. Sau đó, H ngồi trên chiếc xe máy BKS: 29X1-616.40, L1 điều khiển xe máy Airblade BKS: 26K1-003.85 của L1 dùng chân đẩy xe máy cho H đến khu vực chợ V1, phố P để tìm người đánh chìa khoá. Trên đường đi, L1 đưa cho H 500.000 đồng để đánh chìa khoá, hai bên thỏa thuận số tiền 500.000 đồng này sẽ trừ vào tiền mua bán chiếc xe. Khi đi đến khu vực chợ V1, L1 đi về trước đồng thời dặn H tháo biển cất trong cốp xe, khi nào đánh chìa khóa xong thì ra quán C khu đô thị T, L, H, Hà Nội để giao nhận mua bán xe. Khoảng 10 giờ, H đến chỗ hẹn, lúc này xe đã có chìa khóa và đề nổ được. Tại đây, L1 và H thỏa thuận mua bán chiếc xe máy trên với giá 3.000.000 đồng. Do L5 đã đưa trước 500.000 đồng, còn lại 2.500.000 đồng nên L5 đưa cho H 2.000.000 đồng tiền mặt và chuyển khoản số tiền 500.000 đồng cho H (từ số tài khoản 6011919999 của Ngân hàng B1 mang tên Nguyễn Đắc L1 đến số tài khoản 3389885587 mang tên Mã Văn H mở tại Ngân hàng T4). H giao xe cho L1 rồi cả hai đi về. Sau đó L1 liên hệ với 01 người người nam giới không quen biết sử dụng tài khoản Facebook có tên “Co don” để bán xe máy cho người này, hai bên thỏa thuận giá mua bán xe là 3.500.000 đồng và đã giao dịch mua bán xe tại Công viên T, phường D, quận H, Hà Nội. Số tiền bán xe L1 được hưởng chênh lệch là 500.000 đồng, L1 đã ăn tiêu hết.

Khoảng 07 giờ 45 phút ngày 13/12/2024, L1 nhận được tin nhắn của H hỏi có mua xe Honda wave màu trắng không, H gửi ảnh xe và báo giá bán xe là 2.000.000 đồng. L1 đồng ý mua và nhắn tin hẹn H mang xe ra quán cà fe Goship nhưng sau đó không thấy H nhắn tin lại. Vì vậy giữa H và L1 không có việc mua bán chiếc xe này.

Ngày 14/12/2024, Nguyễn Đắc L1 đến Công an phường P xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi trên.

* Vật chứng thu giữ được của vụ án:

  • Thu giữ của Mã Văn H: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu đen và 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, sơn màu trắng đen bạc, BKS 29H1-572.43, số máy HC12E5532659, số khung 1217DY532584, đã qua sử dụng là tài sản Mã Văn H trộm cắp của anh Nguyễn Quang P.
  • Thu giữ của Nguyễn Đắc L1: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 ProMax và số tiền 500.000 đồng do L1 tự nguyện giao nộp.

* Vật chứng không thu giữ được của vụ án: 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vison, sơn màu trắng, BKS 29X1-616.40, đã qua sử dụng là tài sản Mã Văn H trộm cắp của chị Lê Thị G1.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 193/KL-HĐĐGTS ngày 14/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS quận H, kết luận:

  • Giá trị tài sản 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Vision BKS: 29X1-616.40, số máy: JF66E0287467; số khung: 5810GY287400, dung tích 108,2 đăng ký lần đầu ngày 17/8/2017 (xe cũ đã qua sử dụng, chưa thu được tang vật) có trị giá 20.670.000 đồng;
  • Giá trị tài sản 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS: 29H1-572.43, số máy: HC12E5532659, số khung: 1217DY532584, dung tích 97, đăng ký lần đầu ngày 10/12/2015 (xe cũ đã qua sử dụng, đã thu được tang vật) trị giá 6.000.000 đồng (BL 42-43).

Tổng giá trị tài sản hai chiếc xe trên là: 26.670.000 đồng.

Đối với người mua chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision BKS: 29X1-616.40 của L1: Do L1 không biết thông tin, nhân thân lai lịch người này do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ để đề cập xử lý.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision BKS: 29X1-616.40 của chị Lê Thu G: Quá trình điều tra, xác định chiếc xe được đăng ký quyền sở hữu mang tên chị Nguyễn Thị Thanh T1 (SN: 1983, trú tại: V, Hoàng Văn T2, C, Hà Nội). Chị T1 trình bày tháng 8/2024, chị T1 đã bán chiếc xe máy trên cho chị Lê Thu G với giá 21.000.000 đồng.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS: 29H1-572.43 của anh Nguyễn Quang P: Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên được đăng ký quyền sở hữu mang anh Nguyễn Đức S, SN: 1986, trú tại: tổ A, phường Y, quận H, TP Hà Nội. Tháng 6/2016, anh S đã bán chiếc xe trên cho Trung tâm xe máy Mai Nam ở Miếu M, T, C, Hà Nội do chị Trần Ngọc M, SN: 1978, trú tại: Miếu M, T, C, Hà Nội làm chủ. Đến tháng 9/2016, chị M đã bán chiếc xe trên cho chị Nguyễn Thị Thu H4 (SN: 1996, trú tại: B, M, Hà Nội). Hai bên có viết giấy tờ mua bán. Sau đó, chị H4 cho anh Nguyễn Quang P (em trai chị H4) sử dụng để làm phương tiện đi lại.

Ngày 14/01/2025, Cơ quan CSĐT Công an quận H đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 478 bằng hình thức trao trả lại cho anh Nguyễn Quang P, anh P đã nhận lại chiếc xe trên.

Đối với 02 chiếc điện thoại di động thu giữ của Mã Văn H và Nguyễn Đắc L1 là phương tiện H và L1 đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra chuyển 02 chiếc điện thoại đã thu giữ nêu trên đến Chi cục Thi hành án Dân sự quận Hà Đông để chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 27/CT-VKS-HĐ ngày 12/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội đã truy tố Mã Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, Nguyễn Đắc L1 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

  • - Bị cáo Mã Văn H và bị cáo Nguyễn Đắc L1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố, không kêu oan, lời nói sau cùng các bị cáo xin được Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
  • -Người đại diện hợp pháp của bị cáo Mã Văn H là ông Mã Văn V vắng mặt tại phiên tòa và có đơn trình bày ông và mẹ của bị cáo là bà Điền Thị L đã ly hôn, bà L đã bỏ đi Trung Quốc từ mấy năm nay, không có tin tức gì, ông đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H, do ông đi làm ăn xa nên trong trường hợp tòa án mở phiên tòa mà ông vắng mặt thì đề nghị UBND phường P, Đoàn thanh niên phường P cử người đại diện giám hộ cho bị cáo H.
  • - Người đại diện hợp pháp của bị cáo Mã Văn H là Đoàn thanh niên phường P- do bà Trịnh Thị H1- Bí thư đoàn thanh niên đại diện có mặt tại phiên tòa, đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H.
  • - Người bào chữa cho bị cáo H là Bà Dương Bích H2 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố H đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo đã đầu thú, là người chưa thành niên phạm tội, đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
  • - Người bị hại - anh Nguyễn Quang P vắng mặt và có đơn xin giải quyết vắng mặt, theo đơn: anh P xác nhận đã nhận lại xe máy, không có đề nghị gì khác về phần dân sự, về hình phạt đối với bị cáo: đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật; chị Lê Thu G có mặt, yêu cầu bị cáo Mã Văn H bồi thường cho chị số tiền 20.670.000 đồng là trị giá xe máy bị trộm cắp, về hình phạt đối với bị cáo: đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tại phiên tòa: giữ nguyên quan điểm truy tố theo bản cáo trạng số 27/CT-VKS-HĐ ngày 12/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Sau khi phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, lời khai nhận tội của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm:
    • + Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 56; Điều 90; Điều 91; Điều 101; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Mã Văn H từ 07 đến 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 04 tháng tù (chưa chấp hành) tại Bản án hình sự sơ thẩm số 261/2024/HSST ngày 17/9/2024 của Toà án nhân dân quận Hà Đông Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/12/2024 được trừ thời gian tạm giữ của bản án 261.
    • + Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đắc L1 từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù về Tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 15/12/2024 đến ngày 17/12/2024.
    • + Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo do các bị cáo đều không có thu nhập ổn định.
    • + Về trách nhiệm dân sự: người bị hại là anh Lê Quang P1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu Mã Văn H bồi thường về trách nhiệm dân sự nên không xem xét. Chị Lê Thu G yêu cầu bị cáo phải bồi thường giá trị chiếc xe bị mất nên buộc bị cáo Mã Văn H phải bồi thường số tiền 20.670.000 đồng cho chị Lê Thu G.
    • + Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu đen thu giữ của Mã Văn H và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 ProMax thu giữ của Nguyễn Đắc L1 là phương tiện H và L1 đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước. Số tiền 500.000 đồng là tiền thu lời bất chính do bị cáo L1 tự nguyện giao nộp đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước.
    • + Án phí và quyền kháng cáo: theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp, người bào chữa của bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

- Về thủ tục tố tụng đối với bị cáo Mã Văn H: Ông Mã Văn V (bố bị cáo) và đại diện Đoàn thanh niên phường P (Đoàn thanh niên nơi có thẩm quyền điều tra) cùng người bào chữa cho bị cáo Mã Văn H là Bà Dương Bích H2 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố H đều có mặt đầy đủ để bảo vệ quyền lợi cho bị cáo tại các cơ quan tiến hành tố tụng. Tại Tòa án, ông Mã Văn V có đơn đề nghị xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, ông trình bày ông và bà Điền Thị L – mẹ bị cáo đã ly hôn, bà L đã bỏ đi Trung Quốc, ông phải đi làm ăn xa nên trong trường hợp ông vắng mặt tại phiên tòa, đề nghị UBND phường P, Đoàn thanh niên phường P cử người đại diện, giám hộ cho bị cáo. Đoàn thanh niên phường P, quận H (nơi có thẩm quyền điều tra) đã cử bà Trịnh Thị H1 – Bí thư đoàn có mặt tại phiên tòa là người đại diện, giám hộ hợp pháp cho bị cáo tại phiên tòa. Theo quy định của Điều 420 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 8 Thông tư 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BLĐTBXH ngày 21/12/2018 về việc phối hợp thực hiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi thì Đoàn thanh niên cộng sản H5 nơi bắt giữ hoặc nơi có thẩm quyền điều tra cử người đại diện cho người tham gia tố tụng dưới 18 tuổi trong trường hợp họ có người đại diện nhưng vắng mặt.

Như vậy, tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp và người bào chữa cho bị cáo Mã Văn H đều có mặt.

[2]. Hành vi phạm tội và tội danh:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Mã Văn H và Nguyễn Đắc L1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Đủ cơ sở kết luận:

- Đối với Mã Văn H:

Do cần tiền chi tiêu cá nhân, trong các ngày 02/12/2024, 13/12/2024, tại khu vực phường Q và phường P, quận H, TP ., lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản, Mã Văn H đã 02 lần có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của người khác, cụ thể:

  • Ngày 02/12/2024, tại ngõ A đường Q, L, H, Mã Văn H đã trộm cắp của chị Lê Thu G 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vison, sơn màu trắng, BKS 29X1-616.40, trị giá 20.670.000 đồng, mang bán cho Nguyễn Đắc L1 được 3.000.000 đồng và chi tiêu hết số tiền nêu trên.
  • Ngày 13/12/2024, tại số nhà B TT17 Khu đô thị V, P, H, Hà Nội, Mã Văn H đã trộm cắp của anh Nguyễn Quang P 01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, sơn màu trắng, BKS 29H1- 572.43, trị giá 6.000.000 đồng, xe máy đã được thu hồi, trao trả cho anh Nguyễn Quang P.

Tổng trị giá tài sản H đã chiếm đoạt là 26.670.000 đồng (Hai mươi sáu triệu sáu trăm bảy mươi nghìn đồng).

Hành vi của Mã Văn H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: phạm tội từ 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 261/2024/HSST ngày 17/9/2024 Toà án nhân dân quận Hà Đông đã xử phạt bị cáo 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự (là tội phạm ít nghiêm trọng). Khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên (từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi) nên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật hình sự thì được coi là không có án tích. Vì vậy, mặc dù bị cáo chưa chấp hành hình phạt của bản án trước lại tiếp tục phạm tội, nhưng không được coi là tái phạm.

- Đối với Nguyễn Đắc L1:

Ngày 02/12/2024, Nguyễn Đắc L1 đã có hành vi mua của Mã Văn H 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vison màu trắng BKS: 29X1-616.40 trị giá 20.670.000 đồng, mặc dù biết rõ xe máy là tài sản do H trộm cắp mà có, sau đó L1 bán lại chiếc xe máy trên cho 01 người nam giới không quen biết trên mạng xã hội và được hưởng lợi số tiền 500.000 đồng. L1 đã chi tiêu cá nhân hết số tiền trên. Xe máy không thu hồi được.

Hành vi của Nguyễn Đắc L1 đã phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân. Hành vi của các bị cáo không những gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà còn có nguy cơ tiềm ẩn các loại tội phạm khác. Do đó, cần thiết phải khởi tố, truy tố và đưa ra xét xử các bị cáo và áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng đấu tranh, phòng chống loại tội phạm này đang ngày càng gia tăng, trên địa bàn thủ đô và cả nước.

[3].Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội:

- Bị cáo Mã Văn H:

  • + Tiền sự: Không.
  • + Tiền án: Không.
  • + Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 261/2024/HSST ngày 17/9/2024 Toà án nhân dân quận Hà Đông đã xử phạt bị cáo 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, bị cáo chưa chấp hành hình phạt.
  • + Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: phạm tội từ 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
  • + Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội, bị cáo đã đầu thú, bị cáo trộm cắp 02 tài sản, 01 tài sản đã được thu hồi trả lại cho người bị hại nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Khi xem xét lượng hình, Hội đồng xét xử xét: Bị cáo chưa chấp hành hình phạt tù của bản án trước mà lại tiếp tục phạm tội, vì bị cáo là người chưa thành niên phạm tội nên bị cáo được coi là không có án tích, không tái phạm, nhưng bị cáo không biết hối cải, có nhân thân xấu, lần phạm tội này của bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên, bị cáo trộm cắp 02 tài sản, 01 tài sản chưa thu hồi được, bị cáo chưa bồi thường thiệt hại cho người bị hại, vì vậy cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo. Khi phạm tội bị cáo là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nên bị cáo được áp dụng các quy định đối với người chưa thành niên tại Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự và được hưởng các quy định có lợi đối với người chưa thành niên phạm tội theo khoản 2, Điều 179, Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên (công bố ngày 02/12/2024), mức hình phạt tù có thời hạn bằng 3/5 mức hình phạt tù mà Bộ luật hình sự quy định. Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt tù thấp nhất để bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời, trở thành người có ích cho xã hội. Do bị cáo chưa chấp hành hình phạt 04 tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 261/2024/HSST ngày 17/9/2024 của Toà án nhân dân quận Hà Đông nên cần tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt của 02 bản án quy định tại Điều 56 BLHS, được trừ thời gian đã tạm giữ của bản án 261 từ ngày 13/7/2024 đến ngày 22/7/2024.

- Bị cáo Nguyễn Đắc L1

  • + Nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.
  • + Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • + Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng (do khung hình phạt bị cáo bị truy tố cao nhất đến 03 năm tù); Bị cáo đã đầu thú, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đối với hành vi ngày 13/12/2024, sau khi Mã Văn H trộm cắp của anh Nguyễn Quang P 01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, sơn màu trắng, BKS 29H1- 572.43, trị giá 6.000.000 đồng, H nhắn tin cho bị cáo L1 hỏi có mua xe Honda wave màu trắng không, đồng thời H gửi ảnh xe và báo giá bán xe là 2.000.000 đồng. Bị cáo L1 đồng ý mua và nhắn tin hẹn H mang xe ra quán C nhưng do H không nhắn tin lại nên giữa hai bên không giao dịch mua bán chiếc xe này. Vì vậy, hành vi nhắn tin của bị cáo L1 có nội dung đồng ý mua xe máy của bị cáo H không phải là hành vi tiêu thụ tài sản trộm cắp.

Tuy nhiên khi lượng hình cũng cần xem xét đánh giá về ý thức của bị cáo, mặc dù hành vi này chưa cấu thành tội phạm nhưng thể hiện ý thức của bị cáo sẽ tiếp tục phạm tội, mặt khác, bị cáo tiêu thụ tài sản do người chưa thành niên phạm tội là một trong những nguyên nhân thúc đẩy, làm gia tăng tội phạm ở lứa tuổi chưa thành niên, tài sản bị cáo tiêu thụ trị giá 20.670.000 đồng, bị cáo đã bán cho 01 người không quen biết, tài sản không thu hồi được, vì vậy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo.

[4]. Về trách nhiệm dân sự:

Người bị hại là chị Lê Thu G yêu cầu được bồi thường số tiền 20.670.000 đồng là giá trị xe máy bị trộm cắp chưa thu hồi được. Xét yêu cầu của người bị hại là có căn cứ, cần buộc bị cáo Mã Văn H phải bồi thường cho chị Lê Thu G số tiền 20.670.000. Tại thời điểm thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho chị Lê Thu G mà bị cáo đã đủ 18 tuổi trở lên thì bị cáo phải bồi thường toàn bộ số tiền 20.670.000 đồng cho chị Lê Thu G theo quy định tại khoản 2 Điều 586 Bộ luật dân sự.

Người bị hại là anh Lê Quang P1 đã được cơ quan cảnh sát điều tra trả lại xe máy, anh P1 không có đề nghị gì khác. Tại Tòa án, anh P1 không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự và có đơn xin vắng mặt, vì vậy tòa án không xem xét.

[5]. Về hình phạt bổ sung:

Các bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • Số tiền 500.000 đồng do bị cáo Nguyễn Đắc L1 giao nộp là tiền thu lời bất chính từ việc mua xe của Mã Văn H và bán lại cho người không quen biết trên mạng xã hội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  • 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu đen thu giữ của Mã Văn H và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 ProMax thu giữ của Nguyễn Đắc L1 là phương tiện H và L1 đã sử dụng để phạm tội, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[7]. Về các vấn đề khác: Đối với người có tài khoản facebook tên “Co don” (không rõ nhân thân lai lịch cụ thể) đã mua chiếc xe máy BKS: 29X1-616.40 do L1 bán, Cơ quan điều tra chưa làm rõ được nhân thân, mặt khác trong quá trình mua bán L1 không nói gì với người này về nguồn gốc chiếc xe máy trên. Do vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với người mua chiếc xe máy nêu trên.

[8]. Án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo Mã Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền bồi thường thiệt hại 20.670.000 đồng theo quy định của pháp luật. Bị cáo Nguyễn Đắc L1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm;

Bị cáo Mã Văn H, bị cáo Nguyễn Đắc L1, người đại diện hợp pháp của bị cáo Mã Văn H, người bào chữa cho bị cáo Mã Văn H, người bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Mã Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi bổ sung năm 2017).

    Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 56; Điều 90; Điều 91; Điều 101; khoản 2 Điều 179, Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên (công bố ngày 02/12/2024); Điều 38 Bộ luật Hình sự, khoản 1 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự;

    Xử phạt: Mã Văn H 07 (bảy) tháng tù, tổng hợp với hình phạt 04 (bốn) tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 261/2024/HSST ngày 17/9/2024 của Toà án nhân dân quận Hà Đông, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 11 (mười một) tháng tù. Thời hạn tù tính từ 15/12/2024, được trừ thời gian đã bị tạm giữ tại bản án 261/2024/HSST ngày 17/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông từ ngày 13/7/2024 đến ngày 22/7/2024.

  2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đắc L1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi bổ sung năm 2017).

    Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, Điều 38 Bộ luật tố tụng hình sự;

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Đắc L1 08 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 15/12/2024 đến ngày 17/12/2024.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47, 48 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584, Điều 585, khoản 2 Điều 586, Điều 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Mã Văn H phải bồi thường cho chị Lê Thu G số tiền 20.670.000. Tại thời điểm thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho chị Lê Thu G mà bị cáo đã đủ 18 tuổi trở lên thì bị cáo phải bồi thường toàn bộ số tiền 20.670.000 đồng cho chị Lê Thu G theo quy định tại khoản 2 Điều 586 Bộ luật dân sự.
  4. Xử lý vật chứng
    • Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) của bị cáo Nguyễn Đắc L1 (theo ủy nhiệm chi ký hiệu C4-02a/KB: đơn vị trả tiền: Công an quận H, đơn vị nhận tiền: Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, số tiền: 500.000 đồng chẵn.
    • Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu đen số seri: F2LVP9KHJCLC lắp sim số: 0335775183, đã qua sử dụng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 ProMax màu vàng, đã qua sử dụng. (Vật chứng nêu trên có tình trạng, đặc điểm theo như theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 26/2/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an quận H và Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông).
  5. Án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án:

    Bị cáo Mã Văn H, Nguyễn Đắc L1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

    Bị cáo Mã Văn H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 1.033.500 đồng (một triệu không trăm ba mươi ba nghìn năm trăm đồng).

    Bị cáo Mã Văn H, bị cáo Nguyễn Đắc L1, người đại diện hợp pháp của bị cáo Mã Văn H là Đoàn thanh niên phường P có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của bị cáo Mã Văn H là ông Mã Văn V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

    Người bào chữa cho bị cáo Mã Văn H có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm để bảo vệ quyền lợi cho bị cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Anh Nguyễn Quang P có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

    Chị Lê Thu G có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án hợp lệ, nếu người phải thi hành án không trả số tiền phải thi hành án thì hàng tháng còn phải chịu thêm một khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 bộ luật dân sự năm 2015.

    Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Người đại diện của bị cáo; người bào chữa cho bị cáo;
  • - Tòa án nhân dân TP.Hà Nội;
  • - VKSND quận Hà Đông, TP Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP.Hà Nội;
  • - Công an TP. Hà Nội.
  • - Trại tạm giam số 2 - CATP Hà Nội.
  • - Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, TP. Hà Nội;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2025/HSST ngày 13/03/2025 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội về vụ án hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)

  • Số bản án: 55/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự Sơ thẩm (Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mã Văn Hùng + ĐP
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger