Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẠ LONG

TỈNH QUẢNG NINH

Bản án số: 55/2025/HS-ST

Ngày 04 - 3 - 2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Thành Lâm.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Xuân Lập và bà Hồ Thị Lan.

- Thư ký phiên tòa: bà Hoàng Vân Anh và bà Vũ Tú Uyên, đều là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: ông Bùi Văn Bằng - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 28 tháng 02 và 04 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 259/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 332/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2024, các Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2025/HSST-QĐ ngày 02 tháng 01 năm 2025, số: 06/2025/HSST-QĐ ngày 23 tháng 01 năm 2025 và số: 07/2025/HSST-QĐ ngày 19 tháng 02 năm 2025, Thông báo tạm ngừng phiên tòa ngày 28/02/2025 đối với các bị cáo:

1. Bùi Văn T, sinh ngày 09 tháng 10 năm 1986, tại tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: tổ A, khu H, phường V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn L và bà Nguyễn Thị P; có vợ là Phạm Ngọc H; có 02 con, con lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/7/2024; hiện tại ngoại; có mặt.

2. Phạm Ngọc H, sinh ngày 30 tháng 9 năm 1997, tại tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: tổ A, khu H, phường V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Công nhân, Công ty TNHH D; trình độ văn hoá: lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T1 và bà Trịnh Thị H1; có chồng là Bùi Văn T; có 03 con, con lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/7/2024; hiện tại ngoại; có mặt.

- Bị hại: bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1970; nơi đăng ký thường trú: khu G, xã Đ, huyện H, tỉnh Phú Thọ; nơi ở hiện tại: tổ D, khu B, phường V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác (những người làm chứng): các ông, bà, anh chị: Bùi Văn L, Bùi Thị N, Nguyễn Danh T2, Nguyễn Thị H3, Phạm Hữu Đ, Phạm Xuân C và Dương Thị T3; bà N và anh T2 có mặt; những người khác vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Văn T và Phạm Ngọc H là vợ chồng và là con trai và con dâu của ông Bùi Văn L. Năm 2017, vợ ông L là bà Nguyễn Thị P chết. Ông L ở cùng với vợ chồng T, H. Từ đầu năm 2020, ông L quen biết và có quan hệ tình cảm với bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1970, ở trọ tại tổ D, khu B, phường V, đến cuối năm 2023 thì chia tay nhưng thỉnh thoảng ông L vẫn qua nhà trọ của bà H2 chơi. Khoảng 05 giờ 15 phút, ngày 03/5/2024, bà Bùi Thị N là con gái ông L đang đứng đợi xe ở ngã ba Đ để đi làm thì thấy ông L điều khiển xe mô tô đến nhà trọ của bà H2 nên đã đi theo. Khi đến nhà trọ, bà N gõ cửa nhưng bà H2 không mở, hai bên có lời qua qua tiếng lại rồi bà N đạp cửa xông vào nhà thì thấy ông L không mặc áo ngoài, đứng cạnh bà H2 ở gần cửa ra vào. Nghĩ bà H2 rủ ông L đến quan hệ tình cảm nên bà N dùng tay phải tát 01 phát vào mặt bà H2; bà H2 liền vào phòng phía trong lấy 01 con dao bằng kim loại, dài khoảng 30cm, có 01 lưỡi sắc màu trắng dài khoảng 20cm, cán bằng nhựa màu đen dài khoảng 10cm, cầm ở tay phải chạy ra cửa chém 02 nhát vào mũ bảo hiểm của bà N đang đội trên đầu nhưng không để lại thương tích. Sau đó, ông L can ngăn nên cả hai dừng lại rồi bà N đi về. Đến sáng ngày 05/5/2024, bà N vào nhà ông L để giỗ mẹ và kể lại sự việc bà H2 dùng dao chém mình cho T và H biết. Nghe xong, H nói với bà N: “Nó đánh chị thế, hôm nào đánh cho nó một trận”, thì bà N can ngăn. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, T rủ H đi tìm bà H2 để đánh cảnh cáo thì H đồng ý. Ngay sau đó T điều khiển mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 14B1-647.82 chở H đến nhà trọ tìm bà H2 nhưng không thấy. T và H tiếp tục ra chợ Đ1 tìm nhưng cũng không thấy nên lại quay về phía nhà trọ thì thấy bà H2 đang đi bộ trên cầu B theo hướng phường V về nhà trọ. T liền điều khiển xe mô tô áp sát và dừng xe trước chặn đầu bà H2. H xuống xe lao về phía bà H2 rồi dùng tay trái túm, giật tóc, tay phải tát liên tiếp nhiều phát vào hai bên mặt bà H2, vừa tát H vừa chửi bà H2 “Đ.m sao mày dùng dao chém chị tao” thì bà H2 ngồi xổm xuống đường. Sau đó, H tiếp tục dùng tay trái túm, dứt tóc, tay phải tát liên tiếp vào mặt bà H2 làm bà ngã ngửa ra đường cách thành cầu khoảng 50 cm. H tiếp tục lao vào dùng chân đá nhiều phát vào người bà H2. T cũng lao vào dùng chân phải đạp và đá vào người của bà H2, vừa đánh T vừa nói “sau này nhìn thấy chị tao thì tránh ra”. Lúc này, anh Phạm Hữu Đ và anh Phạm Xuân C đi qua thấy T và H đang đánh bà H2 nên vào can ngăn. Anh Đ ở phía sau ôm hai tay vào nách và đỡ bà H2 ngồi dậy thì H tiếp tục lao vào dùng chân trái đá 01 phát trúng vào bụng, dùng tay phải tát 03 phát vào vùng mặt bà H2. Cùng lúc đó, chị N và con trai là anh Nguyễn Danh T2 đi đến cũng vào can ngăn nên H và T dừng lại rồi T điều khiển xe mô tô chở H về nhà, còn bà H2 được anh Đ đưa đi bệnh viện B chữa trị thương tích. Đến ngày 8/5/2024, chị gái của bà H2 là bà Nguyễn Thị H3 đến Công an phường V trình báo sự việc bà H2 bị đánh gây thương tích.

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường vụ việc xảy ra tại cầu B, thuộc tổ D, khu B, phường V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Phía Đông Bắc hướng đi Quốc lộ B, phía Tây Nam hướng đi đường H, phía T và Đ là thành cầu. Tại thành cầu phía Đông Nam có 01 cột đèn điện số VH4/2C. Cầu B có 02 làn rộng 7,9m, bề mặt phẳng. Hiện trường không còn nguyên vẹn. Vị trí bà H2 bị đánh cách thành cầu 0,4m, cách cột điện VH4/2C 10,3m về phía tây nam. Quá trình khám nghiệm không thu giữ đồ vật, dấu vết gì.

Tại Giấy chứng nhận thương tích số 88/CN-BVBC ngày 21/5/2024 của Bệnh viện B chứng nhận tình trạng thương tích lúc vào viện của bà Nguyễn Thị H2 như sau: Bầm tím nhiều vị trí vùng mặt. Mắt phải cung mày bầm tím, thị lực nhìn được, bầm tím ngực phải. Kết quả chụp cắt lớp sọ não: Nhu mô não thùy trán phải và tiểu não bên phải có ổ giảm tỷ trọng dạng tổn thương cũ đã dịch hóa. Thùy trán phải có hình tăng tỷ trọng dạng vật liệu can thiệp. Không thấy khối choán chỗ nội sọ. Ít máu dọc liềm đại não chỗ đo dày nhất 7mm. Hệ thống não thất cân đối, không giãn, dịch não tủy đồng nhất. Đường giữa cân đối. Trên cửa sổ xương: Hình ảnh ổ khuyết xương trán, thái dương bên phải. Không thấy tụ dịch trong các xoang hàm mặt. Phù nề phần mềm vùng đỉnh phải. Kết quả chụp cắt lớp ngực: Hình ảnh dày tổ chức kẽ hai phổi. Gãy xương sườn 4, 5, 6, 7, 8 bên phải.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể người sống số 455/KLTTCT-TTPY ngày 24/5/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Q kết luận thương tích của Nguyễn Thị H2 như sau: Tụ máu dưới màng cứng cạnh liềm đại não và lều tiểu não phải, hiện tại không còn hình ảnh trên phim chụp CT-Scaner sọ não, không có di chứng thần kinh: 08%; Gãy xương sườn 4,5,6,7,8 bên phải: 9,61%. Chấn thương bầm tím vùng mặt bên phải; ngực phải, hiện tại đã chuyển màu vàng nhạt di chứng không đáng kể. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thị H2 tại thời điểm giám định là 17%. Các tổn thương nêu trên do vật tày tác động trực tiếp gây nên, phù hợp với thời gian ngày 05/5/2024.

Quá trình điều tra, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành phạm tội như nội dung nêu trên. Về nguyên nhân đánh gây thương tích cho bà H2, các bị cáo đều khai: do bức xúc việc bà H2 dùng dao chém vào mũ bảo hiểm của bà N tại nhà trọ của bà H2 nên H và T đi tìm đánh bà H2 để cảnh cáo, dằn mặt. H và T chỉ sử dụng tay, chân túm tóc, giật tóc, tát, đạp, đá vào mặt, đầu, người của bà H2 gây thương tích. Ngoài ra, các bị cáo không dùng hung khí nào khác gây thương tích cho bà H2. Các bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bà H2 80.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo T khai: T có chở H bằng xe mô tô đi tìm đánh cảnh cáo bà H2, nhưng khi gặp bà H2, thấy H đánh bà H2 nhiều quá nên bị cáo đã can ngăn, bị cáo chỉ đạp một cái vào vai bà H2. Ngoài các bị cáo ra, không còn ai khác tham gia đánh bà H2. Các bị cáo thừa nhận việc truy tố và đưa các bị cáo ra xét xử về hành vi và tội danh như Cáo trạng đã truy tố là đúng người, đúng tội, không oan, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho các bị cáo được hưởng án treo.

Quá trình điều tra, bị hại là bà Nguyễn Thị H2 khai: khoảng 17 giờ ngày 05/5/2024, khi bà đi bộ từ nhà trọ thuộc tổ D, khu C, phường V lên cầu B được khoảng 20m thì bị T điều khiển xe mô tô chở H áp sát chặn đầu bà. Sau đó, H, T xuống xe dùng tay tát, đạp, đá liên lục vào vùng mặt và người bà. Để tránh đòn, bà dùng hai tay ôm đầu nên không nhìn được được xung quanh. Bà không có mâu thuẫn gì với T và H. Bà đã nhận được 80.000.000 đồng tiền bồi thường và không yêu cầu gì thêm. Tại phiên tòa, bà H2 khai: do các bị cáo đánh, xô đẩy bà nên bà bị ngã vào thành cầu gãy xương sườn. Bà nhận thấy bản thân có một phần lỗi khi 02 ngày trước đó đã dùng dao chém vào mũ bảo hiểm của bà N là chị của các bị cáo. Sau khi sự việc xảy ra, các bị cáo đã đối xử với mình rất tốt, nên bà xin giảm hình phạt, miễn trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

Giai đoạn điều tra, những người làm chứng là bà Bùi Thị N, anh Nguyễn Danh T2, anh Phạm Hữu Đ, anh Phạm Xuân C và chị Dương Thị T3 đều khai: mình có chứng kiến một phần sự việc xảy ra. Sau khi thấy T và H đánh bà H2, bà N, anh T2, anh Đ và anh C đã can ngăn. Anh Đ đã đưa bà H2 về nhà trọ. Sau đó bà H2 được mọi người đưa đi bệnh viện B cứu chữa. Ông L không chứng kiến sự việc xảy ra. Tại Cơ quan điều tra, mọi người đã nhận dạng và khẳng định đúng T và H đã dùng chân, tay đánh bà H2. Tại phiên tòa ngày 28/02/2025, bà N và anh T2 xác nhận lại sự việc này.

Tại bản Cáo trạng số: 5069/CT-VKSHL ngày 24 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố các bị cáo Bùi Văn T và Phạm Ngọc H về tội “Cố ý gây thương tích”, theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự (thuộc trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự).

Tại phiên tòa ngày 28/02/2025, các bị cáo khai: bố đẻ của T là người có công với Cách mạng, được tặng thưởng nhiều danh hiệu, nhưng chưa đủ giấy tờ nộp cho Tòa án và các bị cáo đang xin xác nhận của chính quyền địa phương về hoàn cảnh, nhân thân của các bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ. Tại phiên tòa ngày 04/03/2025, các bị cáo nộp cho Hội đồng xét xử bản sao các huân, huy chương của Nhà nước tặng thưởng cho ông Bùi Văn L (bố đẻ của bị cáo T) và Đơn xin xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn được khu phố và Công an địa phương nơi các bị cáo cư trú xác nhận.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134); các điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58; các khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự:
  • + Xử phạt bị cáo Bùi Văn T từ 18 tháng đến 21 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 tháng đến 42 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, về tội “Cố ý gây thương tích”.
  • + Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc H từ 15 tháng đến 18 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, về tội “Cố ý gây thương tích”.
  • - Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 47; các điểm a và c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021): tịch thu tiêu hủy 01 (một) đôi dép nhựa dẻo màu trắng và 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng xanh đều đã qua sử dụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Về việc vắng mặt một số người làm chứng tại phiên tòa: giai đoạn điều tra họ đã có lời khai về những vấn đề cần giải quyết trong vụ án và không có ý kiến gì. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ vẫn đảm bảo thực hiện đúng quy định Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về nội dung truy tố:

[2.1] Về hành vi phạm tội: các bị cáo đều thừa nhận: chiều ngày 05/5/2024, T rủ và chở H bằng xe mô tô đi tìm bà H2 đánh cảnh cáo; khi nhìn thấy bà H2, T điều khiển xe áp sát chặn đầu bà H2; H đã lao vào dùng tay, chân túm tóc, tát, đá bà H2 trước; sau đó T cũng lao vào dùng chân đạp bà H2; ngoài các bị cáo, không còn ai khác tham gia đánh bà H2. Lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại và những người làm chứng nêu trên có mặt và khai báo rõ về việc các bị cáo dùng tay, chân đánh bà H2, phù hợp với thời gian, địa điểm, phương thức thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo, sơ đồ, bản ảnh, biên bản khám nghiệm hiện trường và Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể của Trung tâm pháp y tỉnh Q đối với bà H2, cùng những tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: khoảng 17 giờ ngày 05/5/2024, tại khu vực cầu B thuộc tổ D khu B phường V thành phố H tỉnh Quảng Ninh, do bức xúc về việc trước đó bà Nguyễn Thị H2 đã dùng dao chém vào mũ bảo hiểm của bà Bùi Thị N (chị gái T), các bị cáo Bùi Văn T và Phạm Ngọc H đã có hành vi: dùng tay túm, giật tóc, tát vào mặt; dùng chân đạp, đá nhiều phát vào người bà H2 gây thương tích, làm bà H2 bị tổn hại 17% (mười bảy phần trăm) cơ thể. Các bị cáo là đồng phạm, đều phải chịu trách nhiệm chung về hậu quả do mình gây ra, không phân biệt ai đánh nhiều, ai đánh ít, ai đánh nặng hơn, ai đánh nhẹ hơn.

[2.2] Điều 134 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: ...

i) Có tính chất côn đồ; ...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm: ...

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”...

[2.3] Về vị trí, vai trò, tính chất của đồng phạm: các bị cáo không có sự bàn bạc, câu kết chặt chẽ với nhau từ trước, mà do nhất thời cùng cố ý thực hiện một tội phạm nên không phải phạm tội có tổ chức mà chỉ là đồng phạm giản đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 17 của Bộ luật hình sự. Trong vụ án này, bị cáo H là người khởi xướng việc đánh bà H2 từ sáng ngày 05/5/2024 nhưng chưa được T chấp nhận ngay. Đến buổi chiều cùng ngày, bị cáo T mới rủ H và trực tiếp điều khiển xe chở H cùng đi đánh bà H2. Cả 02 bị cáo cùng là người thực hành tích cực trong việc phạm tội, có vai trò gần tương đương nhau, nhưng bị cáo T giữ vai trò chính và phải chịu hình phạt cao hơn bị cáo H.

[2.4] Các bị cáo là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, không có mâu thuẫn trực tiếp gì với bị hại từ trước, việc xô sát giữa bị hại với chị gái của bị cáo T đã diễn ra xong từ 02 ngày trước đó và không có ai bị thương tích gì, chỉ vì nguyên cớ nhỏ nhặt, đã có những hành vi gây thương tích cho người khác ở nơi công cộng, đông người qua lại, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa truy tố các bị cáo về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có cơ sở pháp luật.

[2.5] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, coi thường pháp luật, kỷ cương, lối sống văn hóa nơi công cộng, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây mất trật tự, trị an ở địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm minh.

[2.6] Quá trình điều tra, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại; có hoàn cảnh gia đình khó khăn, được chính quyền địa phương xác nhận; bị cáo T có bố đẻ là người có công với Cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng danh hiệu cao quý; trong toàn bộ vụ việc xảy ra, xét nguyên nhân mâu thuẫn, bị hại cũng có một phần lỗi và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo, Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại các điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước.

[3] Về hình phạt: căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, sau khi cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy: các bị cáo có quan hệ vợ chồng, có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đang nuôi con nhỏ; ở gần và có quan hệ quen biết nhiều năm với bị hại; mục đích phạm tội ban đầu không nhằm gây thương tích cho bị hại; sau khi sự việc xảy ra, hai bên đã tự hòa giải mâu thuẫn, thỏa thuận được với nhau về toàn bộ sự việc, được bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Căn cứ quy định tại Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022) của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử thấy: các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên cho các bị cáo hưởng mức án dưới khung hình phạt bị truy tố và không cần thiết phải bắt các bị cáo chấp hành hình phạt tù, mà giao cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú quản lý giáo dục với một thời gian thử thách phù hợp, cho các bị cáo có cơ hội làm việc, nuôi con nhỏ, cải tạo, giáo dục, sữa chữa lỗi lầm, điều đó cũng đáp ứng được mục đích của hình phạt. Trường hợp các bị cáo vi phạm pháp luật trong thời gian thử thách, thì phải chấp hành hình phạt tù của bản án này.

[4] Về trách nhiệm dân sự: giai đoạn điều tra, các bên đã thỏa thuận và thực hiện xong việc bồi thường thiệt hại. Đây là quan hệ dân sự, các bên tự nguyện cam kết, thỏa thuận, không trái pháp luật, đạo đức xã hội và không ai có ý kiến gì thêm. Vì vậy, Hội đồng xét xử không giải quyết.

[5] Về vật chứng vụ án: 01 đôi dép nhựa dẻo màu trắng và 01 mũ bảo hiểm màu trắng xanh không còn giá trị, cũng không có ai yêu cầu được nhận lại cần tịch thu và tiêu hủy.

[6] Đối với bà Bùi Thị N có hành vi dùng tay tát vào mặt bà Nguyễn Thị H2 và bà Nguyễn Thị H2 có hành vi dùng dao chém vào mũ bảo hiểm của bà Bùi Thị N nhưng không có ai bị thương tích, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển tài liệu, hồ sơ đến Công an thành phố H để xử lý vi phạm hành chính, Hội đồng xét xử không giải quyết.

[7] Về án phí: các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo bản án: các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào: điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134); các điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; các khoản 1 và 3 Điều 17; Điều 58; các khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
    • + Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 21 (hai mươi mốt) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 42 (bốn mươi hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 04 tháng 3 năm 2025), về tội “Cố ý gây thương tích”.
    • + Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc H 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 04 tháng 3 năm 2025), về tội “Cố ý gây thương tích”.

    Giao các bị cáo Bùi Văn T và Phạm Ngọc H cho Ủy ban nhân dân phường V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Căn cứ vào: khoản 1; các điểm a và c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021): tịch thu tiêu hủy 01 (một) đôi dép nhựa dẻo màu trắng, phía trên quai dép có dòng chữ CHANEL màu đen và 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng xanh đều đã qua sử dụng. Tình trạng những vật chứng này theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 18/BB-THA ngày 24/10/2024 giữa Công an thành phố H và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
  3. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021); điểm a khoản 1 Điều 3, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: buộc các bị cáo Bùi Văn T và Phạm Ngọc H, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021): các bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo, bị hại;
  • - VKSND TP. Hạ Long;
  • - VKSND T. Quảng Ninh;
  • - CQ điều tra, CQ Hồ sơ nghiệp vụ và
  • CQ THAHS Công an tỉnh Quảng Ninh;
  • - Chi cục THADS TP. Hạ Long;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Sở tư pháp T. Quảng Ninh;
  • - Lưu hồ sơ; Lưu TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2025/HS-ST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về cố ý gây thương tích (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 55/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger