Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TỈNH ĐỒNG NAI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 55/2025/HS-ST
Ngày 21/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Chánh.

2. Ông Huỳnh Thế Cần;

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Trần Doãn Mạnh – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 89/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 47/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với:

- Bị cáo: Nguyễn Tri P (tên gọi khác: không), sinh năm 1977 tại Hải Dương; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: 88/6/14, tổ D, khu phố I, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Họ tên cha: Nguyễn Huy M, sinh năm 1954 (đã chết); Họ tên mẹ: Phạm Thị T, sinh năm 1956 (còn sống), gia đình có 04 anh em, bị cáo là con lớn nhất, có vợ tên Lê Thị M1, sinh năm 1991, có 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 19/8/2024 đến ngày 28/8/2024. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).

* Bị hại: Chị Lê Thị M1, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Tổ H, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính của vụ án:

Nguyễn Tri P và chị Lê Thị M1 là vợ chồng, đăng ký kết hôn với nhau từ năm 2009. P và chị M1 có 02 người con chung là cháu Nguyễn Tri Duy H, sinh năm 2014 và cháu Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 2017 (đều ngụ tại tổ H, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai). Khoảng tháng 05/2024, P cho rằng chị M1 có nhắn tin qua lại với người đàn ông khác (chưa rõ lai lịch) nên P ghen tuông và thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi nhau với chị M1. Ngày 17/8/2024, P phát hiện trong điện thoại của chị M1 có hình ảnh chụp phần ngực của chị M1 nên P có hỏi chị M1 về hình ảnh này, chị M1 nói có gửi hình ảnh cho người đàn ông khác xem. Nghe vậy, P bực tức và chửi chị M1. P yêu cầu chị M1 viết giấy xin lỗi chồng con, thừa nhận có quan hệ tình cảm qua lại với người đàn ông khác nhưng chị M1 không đồng ý. Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 18/8/2024, P đe dọa chị M1 là nếu không giải quyết mâu thuẫn ghen tuông xong thì chị M1 sẽ chết và P sẽ đi tù. Vào khoảng 07 giờ 00 phút cùng ngày, P điều khiển xe ô tô biển số 51H-624.48 chở cháu H, cháu Q đến nơi làm việc của P tại quận I, thành phố Hồ Chí Minh chơi. Đến khoảng 08 giờ 00 phút cùng ngày, P và chị M1 nhắn tin qua lại về việc giải quyết mâu thuẫn ghen tuông. Chị M1 nhắn tin đã nhận lỗi và xin lỗi mà P không tha thứ thì yêu cầu chia tay nên P bực tức. Khoảng 12 giờ 45 phút cùng ngày, P điều khiển xe ô tô nêu trên chở theo cháu H, cháu Q đến cây xăng T1 tại khu vực ngã tư T, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai rồi P đi vào cây xăng mua 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng) tiền xăng đổ vào 01 (Một) chai nhựa (loại chai đựng nước uống) nhãn hiệu AQUAFINA thể tích 500ml và 01 (Một) chai nhựa (loại chai đựng nước uống) nhãn hiệu SATORI thể tích 500ml với mục đích sử dụng xăng để đe dọa đốt chết chị M1. P mang theo xăng và điều khiển xe ô tô biển số 51H-624.48 chở hai cháu H và Q về nơi ở của vợ chồng P tại địa chỉ nêu trên. P đặt 02 chai xăng nêu trên ở kệ đối diện phòng ngủ của vợ chồng P rồi P nói chị M1 đóng cửa vào nhà nói chuyện. Lúc này cháu Q nói cho chị M1 biết việc P mua 02 chai xăng nên chị M1 không đồng ý vào phòng ngủ với P, P liền khoác vai chị M1 kéo vào, chị M1 vùng ra thì bị P dùng tay nắm tóc và dùng chân đá vào bụng chị M1. Chị M1 vùng bỏ chạy ra bên ngoài nhà thì P cầm theo 01 (Một) chai nhựa nhãn hiệu SATORI thể tích 500ml bên trong chứa xăng đuổi theo chị M1 tới trước cửa nhà, P từ phía sau dùng tay nắm áo chị M1 kéo lại làm chị M1 ngã xuống. P dùng tay trái nắm áo chị M1, tay phải cầm chai xăng đập về phía chị M1 làm nắp chai xăng bật ra, xăng trong chai đổ văng xuống người chị M1. P tiếp tục đổ xăng vào người chị M1 đến khi hết xăng trong chai. Chị M1 sợ bị Phương châm lửa đốt giết chết nên hoảng sợ la lớn rồi vùng ra bỏ chạy qua tiệm cắt tóc “T” (bên cạnh nơi ở của chị M1). Sau đó, P điều khiển xe ô tô bỏ đi rồi P quay lại để đón cháu H, cháu Q đi cùng nhưng cháu H, cháu Q không đồng ý đi theo P. P ngồi lại trước cửa tiệm cắt tóc “T” tiếp tục chửi chị M1 thì bị Công an Phường T phát hiện bắt quả tang.

Quá trình điều tra, Nguyễn Tri P đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.

2. Vật chứng vụ án:

  • 01 (Một) chai nhựa (loại chai đựng nước uống) nhãn hiệu AQUAFINA thể tích 500ml bên trong chứa khoảng 450ml dung dịch chất lỏng màu vàng có mùi xăng, sau khí giám định và sau đó trong quá trình lưu giữ vật chứng thì xăng đã bị bay hơi hết và 01 (Một) vỏ chai nhựa (loại chai đựng nước uống) nhãn hiệu SATORI thể tích 500ml P dùng đựng xăng đổ lên người chị M1 (niêm phong gửi giám định).
  • 01 (Một) áo sơ mi màu đen và 01 (Một) quần lửng thun màu trắng đen (đều bị ướt và có mùi xăng) của chị M1.
  • 01 (Một) bật lửa ga kích thước khoảng 8cm ghi ký hiệu MAISO HOANG LUAN VIVA của P.

Đối với xe ô tô biển số 51H-624.48 là tài sản của Công ty trách nhiệm hữu hạn T2 giao cho P sử dụng làm phương tiện đi làm và công ty T2 không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra không thu giữ.

Kết luận giám định số 1867/KL-KTHS ngày 07-10-2024 của Giám định viên Phòng K Công an tỉnh Đ:

  • Mẫu dung dịch lỏng trong chai nhựa AQUAFINA (mẫu M11) được niêm phong gửi giám định có tìm thấy thành phần xăng.
  • Trong chai nhựa nhãn hiệu SATORI (mẫu M12) được niêm phong gửi giám định có tìm thấy thành phần xăng.
  • Mẫu quần áo (mẫu M2) được niêm phong gửi giám định có tìm thấy thành phần xăng.

Quá trình điều tra Nguyễn Tri P và chị Lê Thị M1 đều khai vào cùng một ngày (không rõ) khoảng tháng 7/2024, tại căn nhà không số thuộc tổ D, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, do ghen tuông P 02 lần có hành vi:

Lần thứ nhất vào khoảng 01 giờ 00 phút, P dùng 02 (Hai) sợi dây thun dài khoảng 01m trói tay chị M1 vào thành giường rồi kéo quần áo chị M1 xuống, hơ đầu thuốc lá đang cháy gần mặt chị M1;

Lần thứ hai vào khoảng 09 giờ 00 phút, P tiếp tục thực hiện hành vi như lần thứ nhất và dùng 01 (Một) chày bằng gỗ dài khoảng 21cm chọc vào âm đạo của chị M2. Chị M2 khai do ghen tuông và chị M1 cảm thấy có một phần lỗi với P nên chị M1 tự nguyện để P thực hiện những hành vi nêu trên cho thỏa mãn cơn tức giận của P, chị M1 không bị thương tích, không cảm thấy nhục nhã và không bị xúc phạm đến nhân phẩm, danh dự.

Nguyễn Tri P, cháu Nguyễn Tri Duy H và cháu Nguyễn Ngọc Q đều khai: P cầm theo chai xăng yêu cầu cháu H, cháu Q đi theo P nhưng các cháu không đồng ý, P nói với các cháu là “mày không đi tao đốt hết bây giờ" làm các cháu sợ P sẽ đánh và mắng chửi các cháu nên các cháu khóc to rồi bỏ chạy vào trong nhà. Cháu H, cháu Q đều không lo sợ là P sẽ châm lửa đốt giết mình do hằng ngày P rất yêu thương, chiều chuộng các cháu.

3. Về dân sự:

Bị hại không yêu cầu.

4. Truy tố:

Tại Cáo trạng số: 121/CT-VKSBH - HS ngày 23/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Nguyễn Tri P về tội: “Đe dọa giết người” theo quy định tại Khoản 1, Điều 133 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị;

+ Áp dụng Khoản 1, Điều 133, Điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Tri P mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm đến 3 năm.

5. Ý kiến của những người tham gia tố tụng:

  • Bị cáo trình bày: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
  • Bị hại trình bày tại hồ sơ vụ án và tại đơn xin vắng mặt: Bị hại không yêu cầu về phần dân sự. Đề nghị Toà án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, sự việc xảy ra cũng do có một phần lỗi của bị hại.
  • Lời nói sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối cải, chỉ vì một phút ghen tuông, nóng giận không kìm chế được bản thân nên đã vi phạm pháp luật. Kính xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo hứa sẽ không bao giờ tái phạm nữa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tố tụng: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của pháp luật tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét việc vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử do đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án, không có yêu cầu về phần dân sự; do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự.

[2] Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:

- Những chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tri P thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố; Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản hỏi cung bị can, biên bản lấy lời khai bị hại, người làm chứng, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 18/8/2024 tại tổ H, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Tri P do ghen tuông với chị Lê Thị M1 (vợ của P) nên đã có hành vi đe dọa và dùng 01 (Một) chai nhựa (loại chai đựng nước uống) nhãn hiệu SATORI thể tích 500ml chứa xăng bên trong hắt xăng vào người chị M1 làm chị M1 hoảng sợ cho rằng P sẽ châm lửa đốt chết chị M2.

- Xét tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và lỗi: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền được sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ sức khỏe, tính mạng, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn thực hiện hành động đe dọa để gây ra sự lo sợ cho bị hại, hành vi này cần phải bị xử lý để răn đe và phòng ngừa chung.

- Về tội danh: Từ căn cứ trên, xác định bị cáo Nguyễn Tri P phạm tội “Đe dọa giết người” theo quy định tại Khoản 1, Điều 133 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Như vậy, bản Cáo trạng số 121/CT-VKSBH - HS ngày 23/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Nguyễn Tri P về tội “Đe dọa giết người” theo các điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, được bị hại bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt, bị hại cũng có một phần lỗi. Đây là các tình tiết được quy định tại điểm i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử xét thấy không cần phải buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy, cần áp dụng Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách vừa tạo cơ hội cho bị cáo tự cải tạo bản thân để trở thành công dân tốt, vừa thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật.

[3] Về dân sự: Không yều cầu nên không đặt ra xem xét.

[4] Về vật chứng và các vấn đề khác:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) chai nhựa (loại chai đựng nước uống) nhãn hiệu AQUAFINA thể tích 500ml bên trong chứa khoảng 450ml dung dịch chất lỏng màu vàng có mùi xăng, sau khi giám định và sau đó trong quá trình lưu giữ vật chứng thì xăng đã bị bay hơi hết và 01 (Một) vỏ chai nhựa (loại chai đựng nước uống) nhãn hiệu SATORI thể tích 500ml P dùng đựng xăng đổ lên người chị M1 là phù hợp quy định của pháp luật.

Trả lại:

  • 01 (Một) áo sơ mi màu đen và 01 (Một) quần lửng thun màu trắng đen (đều bị ướt và có mùi xăng) cho chị Lê Thị M1 là phù hợp.
  • 01 (Một) bật lửa ga kích thước khoảng 8cm ghi ký hiệu MAISO HOANG LUAN VIVA cho Nguyễn Tri P do không liên quan đến hành vi phạm tội là phù hợp quy định của pháp luật.

Đối với hành vi Nguyễn Tri P nói với cháu Nguyễn Tri Duy H và cháu Nguyễn Ngọc Q (các con của P) nội dung “mày không đi tao đốt hết bây giờ": Cháu H, cháu Q không lo sợ sẽ bị P dùng xăng để đốt chết nên hành vi nêu trên của P không cấu thành tội “Đe dọa giết người” đối với cháu H và cháu Q.

Đối với hành vi Nguyễn Tri P dùng dây trói tay chị Lê Thị M1 vào thành giường rồi hơ đầu thuốc lá đang cháy gần mặt và dùng chày gỗ chọc vào âm đạo của chị M1 vào ngày (không rõ) khoảng tháng 7/2024. Hành vi nêu trên của P không diễn ra thường xuyên (chỉ xảy ra trong thời gian ngắn và trong một ngày), chưa gây tổn hại đến sức khỏe, tinh thần của chị M1. P chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình”. Do đó, không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với P về tội “Hành hạ vợ” quy định tại Điều 185 Bộ luật Hình sự là phù hợp.

[5] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[6] Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa:

  • Đối với phần trình bày của Kiểm sát viên: Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh nêu trên và đề nghị mức hình phạt phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
  • Đối với phần trình bày của bị cáo, người bị hại được Hội đồng xét xử xem xét khi nghị án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Áp dụng Khoản 1, Điều 133; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về án treo;

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tri P phạm tội “Đe dọa giết người”.

- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Tri P 01 (Một) năm tù, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 21/02/2025.

Giao bị cáo Nguyễn Tri P cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự 2019.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) chai nhựa (loại chai đựng nước uống) nhãn hiệu AQUAFINA thể tích 500ml bên trong chứa khoảng 450ml dung dịch chất lỏng màu vàng có mùi xăng, sau khí giám định và sau đó trong quá trình lưu giữ vật chứng thì xăng đã bị bay hơi hết và 01 (Một) vỏ chai nhựa (loại chai đựng nước uống) nhãn hiệu SATORI thể tích 500ml P dùng đựng xăng đổ lên người chị M1.

- Trả lại:

  • 01 (Một) áo sơ mi màu đen và 01 (Một) quần lửng thun màu trắng đen (đều bị ướt và có mùi xăng) cho chị Lê Thị M1.
  • 01 (Một) bật lửa ga kích thước khoảng 8cm ghi ký hiệu MAISO HOANG LUAN VIVA cho bị cáo Nguyễn Tri P.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11/02/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa).

3. Về án phí:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Nguyễn Tri P phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

Áp dụng Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại chị Lê Thị M1 được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • Bị cáo, bị hại
  • Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa;
  • Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Biên Hòa;
  • Cơ quan Thi hành án hình sự, Nhà tạm giữ - Công an thành phố Biên Hòa;
  • Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa;
  • Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • Lưu: Hồ sơ vụ án, Văn phòng và Thẩm phán.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Thuý

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm về tội đe dọa giết người

  • Số bản án: 55/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đe dọa giết người
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phương
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger