|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 55/2025/HSST Ngày 17/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Liên
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Huệ - Giáo viên nghỉ hưu
Bà Phan Thị Nhụ - Cán bộ nghỉ hưu
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nụ, thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đỗ Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 55/2025/HSST ngày 15 tháng 01 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2025/QĐXXST – HS ngày 05/02/2025, đối với các bị cáo:
- Trần Văn T, sinh năm 2004; Giới tính: Nam; HKTT: Khu E, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Học vấn: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Trần Văn L và con bà Nghiêm Thị T1; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là thứ hai; Vợ, con: Chưa có.
- - Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tam giam từ ngày 25/10/2024 đến ngày 25/11/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh. (Có mặt tại phiên tòa).
- Đào Đức H, sinh ngày 02/10/2006; Giới tính: Nam; HKTT: Thôn Í, xã S, huyện G, tỉnh Bắc Ninh; Hiện trú tại: Khu phố G, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Học sinh; Học vấn: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Đào Đức Q1 và con bà Hoàng Thị H1; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ hai; Vợ, con: Chưa có.
- - Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tam giam từ ngày 25/10/2024 đến ngày 25/11/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh. (Có mặt tại phiên tòa).
- Trần Trọng L1, sinh ngày 12/9/2010; Giới tính: Nam; HKTT: Khu phố H, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Học vấn: 05/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Trần Trọng N và con bà Đinh Thị H2; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là thứ ba; Vợ, con: Chưa có.
- - Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tam giam từ ngày 25/10/2024 đến ngày 31/10/2024 được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt tại phiên tòa).
*. Người đại diện cho bị cáo Trần Trọng Lộc
Ông Trần Trọng N, sinh năm 1983
Địa chỉ: Khu phố H, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh
*. Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hoàng Nhật H3 – Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B.
*. Người bị hại: Anh Nguyễn Văn M, sinh ngày 15/5/2008 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn C, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh
Người đại diện của bị hại: Bà Nguyễn Thị H4, sinh năm 1975 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn C, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh
* Người có quyền, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Đào Đức Q1, sinh năm 1979 (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn Ích Phú, xã Song Giang, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh
- Trần Văn L, sinh năm 1981 (Có mặt)
Địa chỉ: Khu 5, phường Đại Phúc, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh
- Ông Trần Trọng N, sinh năm 1983 (Có mặt)
Địa chỉ: Khu phố Hà Liễu, phường Phương Liễu, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
- Bà Nguyễn Thị H4, sinh năm 1975 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Cựu Tự, xã Ngọc Xá, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
- Anh Nguyễn Đình T2, sinh năm 1983 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố M, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mâu thuẫn từ trước với một số nam thanh niên trên địa bàn thị xã Q nên tối ngày 22/10/2024, Trần Văn T rủ Đào Đức H đi tìm nhóm thanh niên mâu thuẫn với T để đánh nhau. Đến khoảng 20 giờ 45 phút cùng ngày, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH160i, màu trắng đen, BKS: 99H1 - 442.24 đến đón T, khi đến khu vực tượng đài Q, T đi ra bụi cây gần tượng đài lấy 01 thanh kiếm bằng kim loại (loại kiếm tự chế) dài khoảng 01m, lưỡi kiếm rộng 4,5 cm, đầu mũi kiếm nhọn, phần tay cầm dài 28 cm được quấn bằng băng dính màu đen (thanh kiếm được quấn kín bọc trong chiếc áo chống nắng do trước đó T nhặt được ở ven đường Đ). Sau đó, H điều khiển xe đi xuống vòng xuyến phường V, thị xã Q thì gặp một số nam thanh niên là bạn quen biết đi ngược chiều. Trông thấy xe của H, các thanh niên này quay xe lại đi cùng H và T, trong đó có Trần Trọng L1, sinh ngày 12/9/2010, HKTT: Khu phố H, Phường P, thị xã Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xám đen, không BKS (xe của Nguyễn Thanh T3 đưa cho L1 điều khiển). Cả nhóm cùng đi theo đường Quốc lộ 18 đến cầu Đ thuộc xã Đ, thị xã Q thì quay lại đi ngược về hướng Phố Mới. Khi đi qua khu vực cổng chào khu công nghiệp Q thì nhóm của T gặp 01 nhóm nam thanh niên khác gồm 08 người (sau này xác định đều ở xã H, thị xã Q) đi trên 4 xe mô tô đi cùng chiều, trong đó xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng đen bạc BKS 11B1 – 518.97 do Đỗ Đức Q, sinh năm 2007 điều khiển phía sau chở Nguyễn Văn M, sinh ngày 15/5/2008; xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, BKS: 99AA – 089.48 do Trần Văn K, sinh năm 2007 điều khiển phía sau chở Nguyễn Văn S, sinh năm 2009; xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen bạc, BKS: 99E1 – 557.05 do Nguyễn Văn Đ, sinh năm 2008 điều khiển phía sau chở Nguyễn Văn K1, sinh năm 2008; xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, BKS: 99AE - 049.48 do Nguyễn Thành L2, sinh năm 2008 điều khiển chở phía sau Hoàng Đình C, sinh năm 2008. Lúc này T nhìn thấy 01 chiếc xe mô tô mang BKS đầu là 11..., nghĩ đây là xe mô tô trước đây mâu thuẫn với mình, nên T bảo H đuổi theo. L1 thấy vậy cũng tăng ga đi theo sau xe của H. Các xe khác trong nhóm của T điều khiển xe đi về không tham gia đuổi theo. Lúc này, do nhóm của Nguyễn Văn M đông người hơn nên T, H và L1 chỉ điều khiển xe mô tô bám theo sau. Đến khoảng gần 22 giờ cùng ngày 22/10/2024, khi đến vòng xuyến V, hướng đi cầu Y - Bắc Giang, thì các xe mô tô nhóm của Đỗ Đức Q đi về các hướng khác, chỉ có xe của Đỗ Đức Q tiếp tục đi về phía cầu Y. Thấy tương quan lực lượng của nhóm mình hơn nên T nói với H “đuổi”. H tăng ga điều khiển xe vọt lên. L1 thấy vậy cũng tăng ga điều khiển xe đi theo ngay phía sau. H điều khiển xe của mình tạt đầu ép xe mô tô của Q dừng lại gần dải phân cách ở giữa đường, còn L1 điều khiển xe mô tô chặn ở phía sau xe của Q và M. Tại đây, H và L1 vẫn ngồi trên xe, T rút kiếm bọc trong áo chống nắng ra vung lên khiến M và Q sợ hãi để xe lại bỏ chạy. Chiếc xe mô tô của M đổ ngả vào giải phân cách giữa cầu. T cầm kiếm đuổi theo một đoạn khoảng 10m thì không đuổi nữa, rồi quay lại đi vòng ra phía sau xe mô tô Honda Wave, màu trắng đen bạc, BKS: 11B1 – 518.97 bỏ lại. Thời điểm này, xe của H và L1 vẫn nổ máy, ngồi trên xe và hiểu mục đích của T tiến đến để chặt phần đuôi xe có gắn BKS, để cả ba cùng chiếm lấy mang về đem khoe “chiến tích” với bạn bè. Do trời tối không có đèn đường nên L1 rọi đèn xe mô tô của mình thẳng đến vị trí chiếc xe mô tô Honda Wave để T cầm kiếm bằng hai tay giơ lên chém 01 nhát trúng vào phần đuôi chắn bùn phía sau, có gắn BKS 11B1 – 518.97 của xe mô tô Honda Wave rơi ra. T nhặt rồi ngồi lên xe của H và bảo “đi về”. H nói “đi về hồ C”. Lúc này, do sợ nếu đi về bằng đường chính, trên đường về sẽ có camera, người dân và Công an phát hiện nên cả hai bảo L1 “dẫn đường gần nhất về hồ C”. L1 hiểu ý của T và H để L1 dẫn đường đi trong khu công nghiệp để tránh bị phát hiện nên L1 nói “đi theo em” và dẫn xe theo đường qua địa phận phường Q. Trên đường về, nhóm của T gặp Trần Văn K điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Văn S đi ngược chiều. K và S thấy chiếc xe của Q và M bỏ lại ở dải phân cách đã bị chặt biển số nhưng cả hai đi thẳng qua cầu Y, để tìm M và Q. Nhóm của T, H và L1 sau đó đi về khu vực hồ nước trong khu S ngồi chơi. Tại đây, T để thanh kiếm cùng phần đuôi xe có gắn BKS vừa chiếm đoạt được tại vị trí cả 03 ngồi. Khoảng 5 phút sau, để tránh bị phát hiện thì T mang thanh kiếm cùng phần đuôi chắn bùn sau xe mô tô có gắn BKS vừa chiếm đoạt được cất giấu tại 01 bụi cây cách vị trí cả 03 đang ngồi khoảng 50m – 70m, rồi ai về nhà nấy. Còn M và Q sau đó quay lại tìm xe mô tô Honda Wave, màu trắng đen bạc, BKS: 11B1 – 518.97 của mình nhưng chiếc xe đã bị lấy mất nên đã đến Công an thị xã Q trình báo.
Sau khi tiếp nhận tố giác, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q đã tiến hành điều tra xác minh, triệu tập các đối tượng có liên quan. Ngày 24/10/2024, nhận thức được hành vi phạm tội, Trần Văn T, Trần Trọng L1 và Đào Đức H đã đến Công an thị xã Q đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội và giao nộp đồ vật, tài sản liên quan gồm:
- - Trần Văn T nộp 01 thanh kiếm bằng kim loại (loại kiếm tự chế) dài 01m, lưỡi kiếm rộng 4,5 cm, đầu mũi kiếm nhọn, phần tay cầm dài 28 cm được quấn bằng băng dính màu đen; 01 phần đuôi chắn bùn sau của loại xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen (bị gẫy vỡ), bên trên có gắn BKS: 11B1-518.97.
- - Anh Nguyễn Đình T2 sinh năm 1983, HKTT: khu phố M, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. (bố của Nguyễn Thanh T3, sinh ngày 18/5/2009) giao nộp xe mô tô Honda Vision màu xám, không BKS.
- - Anh Đào Đức Q1 sinh năm 1979, HKTT: thôn Í, xã S, huyện G, tỉnh Bắc Ninh (bố của Đào Đức H) giao nộp xe mô tô SH160i màu trắng, BKS 99H1- 442.24.
Trên cơ sở Yêu cầu định giá tài sản số 2523/YCĐG-ĐHS-KT-MT ngày 25/10/2024, của Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q. Tại Kết luận định giá tài sản số 66/KL-HĐĐGTS cùng ngày 25/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thị xã Q kết luận:
- – Giá trị thiệt hại của 01 xe máy Honda Wave màu trắng – đen, BKS: 11B1-518.97 (đã qua sử dụng) – thay thế chắn bùn phía sau tại thời điểm định giá là 200.000 đồng.
- – Chi phí cấp lại biển số xe tại thời điểm định giá là 50.000 đồng.
Tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 250.000 đồng.
Ngày 01/11/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh ra Quyết định trưng cầu giám định đối với: Biển kiểm soát xe mô tô số 11B1 – 518.97. Tại Bản kết luận giám định số 2551/KTHS0 cùng ngày 01/11/2024 của Phòng K2 - Công an tỉnh B, kết luận: “Biển kiểm soát xe mô tô số 11B1 – 518.97 gửi giám định đúng với mẫu so sánh lưu tại PC09 (là BKS do Cơ quan Nhà nước ban hành)”.
* Xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 đuôi chắn bùn sau và 01 BKS: 11B1 – 518.97 của xe mô tô Honda Wave là tài sản của chị Nguyễn Thị H4 (mẹ Nguyễn Văn M), sinh năm 1975. Ngày 01/11/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q đã trả lại phần đuôi chắn bùn và BKS trên cho chị H4. Chị H4 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì.
- - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH160i, BKS: 99H1 - 442.24. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Đào Đức Q1. Chiếc xe mô tô này do H tự lấy đi, A Q1 không biết. Ngày 01/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q đã trả lại chiếc xe môtô trên cho anh Q1 mà không thu giữ là phù hợp pháp luật.
- - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, chưa lắp BKS. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Đình T2. Chiếc xe mô tô này anh T2 đang hoàn thiện thủ tục giấy tờ và BKS. Tại thời điểm xảy ra vụ việc, anh không biết việc Nguyễn Thanh T3 (con trai anh T2) tự lấy để đi chơi, sau đó T3 đưa cho L1 điều khiển. Ngày 03/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q đã trả lại chiếc xe môtô trên cho anh T2. Anh T4 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì.
Vật chứng còn lại:
- - 01 thanh kiếm bằng kim loại.
* Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra, đại diện gia đình của Trần Văn T, Đào Đức H và Trần Trọng L1 đã cùng nhau đền bù cho gia đình bị hại cháu Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị H4 số tiền 18.000.000 đồng. Cháu M và chị H4 đã nhận tiền, không yêu cầu gì khác và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho T, H và L1.
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 03/CT-VKSQV ngày 14/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ truy tố Trần Văn T, Đào Đức H và Trần Trọng L1 về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ phân tích lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng thu giữ được và toàn bộ các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo. Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Trần Văn T, Đào Đức H và Trần Trọng L1 phạm tội “Cướp tài sản".
Áp dụng: Điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 54; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt:
Trần Văn T từ 04 năm 09 tháng đến 05 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày chấp hành quyết định thi hành án nhưng được trừ đi số ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/10/2024 đến ngày 25/11/2024.
Đào Đức H từ 04 năm 03 tháng đến 04 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày chấp hành quyết định thi hành án nhưng được trừ đi số ngày tạm giữ tạm giam từ ngày 25/10/2024 đến ngày 25/11/2024.
Áp dụng: Điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 91, Điều 101; Điều 54; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 124 Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024. Xử phạt:
Trần Trọng L1 03 (Ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (Ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo T và H. Không áp dụng đối với bị cáo L1.
Trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 thanh kiếm bằng kim loại.
Về án phí: Các bị cáo T và H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo L1 không phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm.
Người bào chữa cho bị cáo Trần Trọng L1:
Nhất trí với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với Trần Trọng L1. Tuy nhiên, người bào chữa nhận thấy L1 còn rất ít tuổi. Khi phạm tội L1 mới được 14 tuổi 01 tháng 10 ngày nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, hơn nữa do điều kiện nên L1 nghỉ học sớm (học hết lớp 5). Do bị cáo tuổi đời còn nhỏ, hành vi phạm tội là bộc phát, không nhằm mục đích gây thương tích hay chiếm đoạt tài sản để bán lấy tiền chi tiêu, giá trị tài sản thấp và đã được gia đình bồi thường khắc phục hậu quả. Sau khi phạm tội, L1 đã đến cơ quan Công an đầu thú, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, được người bị hại tha thiết xin giảm nhẹ hình phạt nên L1 được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Theo nguyên tắc xét xử đối với người chưa thành niên phạm tội, mục đích là giáo dục và răn đe nên xét mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và độ tuổi, tôi đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất theo quy định tại Điều 90, 101 và áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo mức án thấp nhất và cho bị cáo được hưởng án treo cũng có tác dụng giáo dục và răn đe đối với bị cáo và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định.
Các bị cáo nhận tội. Bị cáo, người đại diện ch bị cáo và người tham gia tố tụng khác không tham gia tranh luận đối với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định cuả Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định cuả Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Nội dung vụ án đã thể hiện rõ: Khoảng 22 giờ ngày 22/10/2024, tại khu vực chân cầu Y thuộc địa phận Đ, phường Q, thị xã Q, các bị cáo Đào Đức H, Trần Văn T và Trần Trọng L1 có hành vi điều khiển xe mô tô chặn xe mô tô do Đỗ Đức Q điều khiển xe mô tô Honda Wave, BKS: 11B1 – 518.97 chở Nguyễn Văn M. T dùng 01 thanh kiếm bằng kim loại (loại kiếm tự chế) dài 01m, lưỡi kiếm rộng 4,5 cm, đầu mũi kiếm nhọn, phần tay cầm dài 28 cm được quấn bằng băng dính màu đen đe dọa và đuổi đánh khiến M và Q sợ hãi bỏ chạy, vứt lại xe mô tô Honda Wave. Ngay sau đó, dưới sự giúp sức của H và L1, T có hành vi dùng thanh kiếm chặt 01 nhát lấy được phần đuôi chắn bùn phía sau, có gắn BKS: 11B1-518.97 của xe mô tô Honda Wave, mục đích để cùng nhau chiếm đoạt. Sau đó, cả 03 mang đi cất giấu tại bụi cây khu vực hồ nước trong khu S thuộc phường P, thị xã Q. Tổng trị giá tài sản T, H và L1 chiếm đoạt được trị giá là 250.000 đồng. Tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi và trả cho người bị hại.
Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, vật chứng thu giữ được cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ. Do vậy, có đủ cơ sở kết luận Trần văn T, Đào Đức H và Trần Trọng L1 phạm tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo T đã dùng thanh kiếm dài bằng kim loại để đe dọa làm cho anh Q và anh M sợ hãi bỏ chạy để lại tài sản. Sau đó, T được sự trợ giúp của H và L1 cầm kiếm chém và lấy phần đuôi chắn bùn phía sau xe có gắn biển kiểm soát BKS: 11B1 – 518.97 mục đích để cầm về khoe chiến tích với bạn bè. Hành vi của các bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản. Do đó, xét cần xét xử các bị cáo mức án nghiêm tương xứng với mức độ hành vi phạm tội, hậu quả của hành vi để giáo dục, cải tạo, giúp các bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Đánh giá về vai trò: T có vai trò chính trong vụ án vì là người rủ rê, chuẩn bị kiếm tự chế, đe dọa bị hại và chặt phần đuôi chắn bùn của xe mô tô Wave có gắn BKS: 11B1-518.97. H là người điều khiển xe theo chỉ dẫn của T áp sát xe của anh M. L1 là người đi theo sau có tham gia hỗ trợ, giúp sức về tinh thần cho T chém phần đuôi xe của anh M. Tuy nhiên, các bị cáo không có sự bàn bạc, thống nhất và phân công nhiệm vụ nên đây là vụ án đồng phạm giản đơn, không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu. Tại cơ quan điều tra, các bị cáo đã đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội. Các bị cáo đã tác động đến gia đình để bồi thường và khắc phục hậu quả cho người bị hại và được người bị hại tha thiết xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, tài sản các bị cáo chiếm đoạt có giá trị thấp và đã được thu hồi, trả cho người bị hại. Ngoài ra, bị cáo H có ông nội là Đào Đức T5 tham gia chiến đấu ở chiến trường Campuchia và là thương binh 4/4 nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên khi lượng hình Hội đồng xét xử cân nhắc giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Xét thấy, bị cáo T và H có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, mục đích chiếm đoạt tài sản không nhằm mục đích bán lấy tiền chi tiêu mà nhằm thể hiện bản thân với bạn bè, tài sản chiếm đoạt có giá trị thấp (250.000đ) và đã được thu hồi và trả cho người bị hại. Các bị cáo đã được người bị hại tha thiết xin giảm nhẹ hình phạt nên các bị cáo có đủ điều kiện áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo L1 khi phạm tội mới được 14 tuổi 01 tháng 10 ngày nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị cáo tham gia vụ án với vai trò giúp sức, vai trò không đáng kể. Ngoài ra việc xử lý đối với L1 nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Xét về vai trò, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân, độ tuổi và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ nhận thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo hưởng mức án phù hợp là phạt tù nhưng cho hưởng án treo để gia đình và địa phương quản lý giáo dục cũng đủ giúp L1 sửa chữa sai lầm, học tập, giúp ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo T và H chưa có công việc ổn định, tài sản tích lũy không có, chưa có gia đình riêng nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo là phù hợp.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo L1.
Về trách nhiệm dân sự: Cháu M và bà H4 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường nên không đặt ra giải quyết.
Đối với số tiền 18.000.000₫ mà bố, mẹ các bị cáo cùng nhau góp vào để tự nguyện bồi thường cho chị H4 và cháu M giá trị chiếc xe đã mất chưa thu hồi được. Tại phiên tòa, họ đều xác định tự nguyện bỏ tiền ra để giúp các bị cáo và không yêu cầu các bị cáo trả lại số tiền đó nên không đặt ra giải quyết là phù hợp.
Về vật chứng: Đối với 01 thanh kiếm tự chế là hung khí được sử dụng vào việc cướp tài sản nên cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng đen bạc, số khung: RLHJA3927MY187557, số máy: JA39E2306006 bị mất phần đuôi chắn bùn phía sau, có BKS: 11B1-518.97. Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị H4 (mẹ của M) mua khoảng tháng 9/2024 của chị Đàm Thị T6, sinh năm 1990, HKTT: Xóm H, B, thị trấn N, huyện H, tỉnh Cao Bằng và chị H4 đang làm thủ tục sang tên chính chủ. Đến nay, chiếc xe mô tô chưa xác định được ở đâu. Vì vậy, Cơ quan điều tra ra Quyết định truy tìm, tiếp tục điều tra, xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
- - Đối với nhóm thanh niên điều khiển xe mô tô đi cùng là bạn của T và H. Quá trình điều tra xác định các đối tượng trên không liên quan đến hành vi phạm tội của T, H và L1 nên cơ quan CSĐT Công an thị xã Q không xem xét xử lý là phù hợp.
- - Đối với các hành vi của các đối tượng và người liên quan khi tham gia giao thông vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ. Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q đã tiến hành thu thập tài liệu, hồ sơ, tang vật bàn giao cho Đ1, trật tự Công an thị xã Q để đề nghị ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố các bị cáo Trần Văn T, Đào Đức H và Trần Trọng L1 phạm tội “Cướp tài sản”.
Áp dụng: Điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 54; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt:
Trần Văn T 04 (Bốn) năm 07 (B) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày chấp hành quyết định thi hành án nhưng được trừ đi số ngày tạm giữ tạm giam từ ngày 25/10/2024 đến ngày 25/11/2024.
Đào Đức H 04 (Bốn) năm 01 (một) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày chấp hành quyết định thi hành án nhưng được trừ đi số ngày tạm giữ tạm giam từ ngày 25/10/2024 đến ngày 25/11/2024.
Áp dụng: Điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 91, Điều 101; Điều 54; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 124 Luật tư pháp người chưa thành niên. Xử phạt:
Trần Trọng L1 03 (Ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (Ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trần Trọng L1 cho UBND phường P giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người đó chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68; Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 thanh kiếm tự chế bằng kim loại dài 01m. lưỡi kiếm rộng 4.5cm, đầu mũi kiếm nhọn. phần tay cầm dài 28cm được quấn bằng băng dính màu đen.
(Theo biên bản bàn giao vật chứng số 44 ngày 14/01/2025 giữa Công an thị xã Q với Chi cục thi hành án dân sự huyện Quế Võ)
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Trần Văn T và Đào Đức H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho Trần Trọng L1.
Bị cáo, người đại diện, người bào chữa, người liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Liên |
Bản án số 55/2025/HSST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH về vụ án hình sự về tội cướp tài sản
- Số bản án: 55/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Cướp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn T và đồng phạm - cướp tài sản
