TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 55/2024/HNGĐ-ST Ngày 12-12-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Yến
Bà Mai Thị Duyên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Duy Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 67/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phan Thị Thảo L; nơi cư trú: Số C P, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Lê Văn T; nơi cư trú: Số C P, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; hiện đang chấp hành án tại Đội 8, Phân trại 2, Trại giam X; địa chỉ: Núi P, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 30/9/2024 và bản tự khai của nguyên đơn chị Phan Thị Thảo L trình bày:
Năm 2012, chị và anh Lê Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, gia đình hai bên có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán Việt Nam, có đăng ký kết hôn ngày 31 tháng 01 năm 2012 tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng.
Quá trình chung sống, vợ chồng có thời gian đầu chung sống bình thường không có mâu thuẫn lớn. Từ năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do hai bên bất đồng quan điểm, lối sống. Hơn nữa, do anh T vi phạm pháp luật và bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 06 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Hiện anh T đang chấp án tại Đội 8, P, Trại giam X. Nay mâu thuẫn đã trầm trọng, vợ chồng không thể hàn gắn được và chị không còn tình cảm với anh T. Vì vậy, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Văn T.
- Về con chung: Chị xác nhận chị và anh T có một con chung là Lê Tuấn D, sinh ngày 14/5/2012. Khi ly hôn, chị L đề nghị được nuôi con, do anh T hiện đang chấp hành án, không có điều kiện nuôi dưỡng con. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Chị Phan Thị Thảo L không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Lê Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản của Tòa án gồm Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
* Bị đơn Lê Văn T đã có bản tự khai đề ngày 25/10/2024 thể hiện quan điểm như sau:
Năm 2012, anh và chị L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, gia đình hai bên có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán Việt Nam, có đăng ký kết hôn ngày 31/01/2012, tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống anh T và chị L không có mâu thuẫn gì. Đến tháng 7/2022 do anh vi phạm pháp luật và bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 06 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Hiện anh T đang chấp án tại Đội 8, P, Trại giam X. Đến nay, chị L có đơn xin ly hôn đơn phương anh, anh đồng ý ly hôn và đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
- Về việc nuôi con: Anh Lê Văn T xác nhận anh và chị L có một con chung Lê Tuấn D, sinh ngày 14/5/2012. Anh đồng ý giao con chung cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, đến khi anh T chấp hành án xong sẽ yêu cầu Tòa án thay đổi quyền nuôi con sau. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con anh T không có ý kiến gì, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Anh Lê Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tòa án đã thu thập chứng cứ tại địa phương cũng như gia đình chị L, anh T thể hiện: Về nguyên nhân mâu thuẫn do hai bên bất đồng quan điểm, lối sống. Hơn nữa, do anh T vi phạm pháp luật và bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 06 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Hiện anh T đang chấp án tại Đội 8, P, Trại giam X. Nay chị L có đơn xin ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật; về con chung: Chị L và anh T có một con chung là Lê Tuấn D, sinh ngày 14/5/2012, gia đình và địa phương đề nghị giao con chung cho chị L trực tiếp nuôi. Về tài sản chung: Địa phương, cũng như gia đình không có ý kiến gì.
* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết từ giai đoạn thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật, bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 1, điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu do đương sự cung cấp và chứng cứ do Tòa án thu thập trên cơ sở tranh tụng tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào các tài liệu do đương sự cung cấp và chứng cứ do Tòa án thu thập trên cơ sở tranh tụng tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 và các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị định số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Thảo L được ly hôn anh Lê Văn T; về việc nuôi con: Giao con chung Lê Tuấn D, sinh ngày 14/5/2012 cho chị L trực tiếp nuôi cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chị Phan Thị Thảo L không yêu cầu giải quyết; về án phí: Chị Phan Thị Thảo L phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng dân sự:
+ Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
[1] Đây là quan hệ pháp luật về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn anh Lê Văn T trước khi cháp hành án cư trú tại địa bàn quận H nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về sự vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn:
[2] Nguyên đơn vắng mặt có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt; bị đơn anh Lê Văn T đã có ý kiến xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử xử vắng mặt nguyên đơn; bị đơn theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Phan Thị Thảo L và anh Lê Văn T được xác lập từ ngày 31 tháng 01 năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Quá trình chung sống chị Phan Thị Thảo L và anh Lê Văn T có thời gian đầu chúng sống bình thường không có mâu thuẫn lớn.Từ năm 2022 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do hai bên bất đồng. Mặt khác, do anh T vi phạm pháp luật và bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 06 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Hiện anh T đang chấp án tại Đội 8, P, Trại giam X. Gia đình hai bên cũng đã động viên chị L để vợ chồng đoàn tụ, nhưng đến nay chị L xác định không còn tình cảm yêu thương anh T, nên vẫn giữ quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn; đối với anh T cũng có quan điểm thể hiện đồng ý ly hôn chị L. Xét mâu thuẫn giữa chị Phan Thị Thảo L và anh Lê Văn T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phan Thị Thảo L.
[5] Về việc nuôi con: Chị Phan Thị Thảo L và anh Lê Văn T có một con chung là Lê Tuấn D, sinh ngày 14/5/2012. Hội đồng xét xử xét: Từ thời điểm anh T đi chấp hành án đến nay con vẫn ở với chị L và cháu vẫn được chăm sóc đầy đủ, mặt khác cháu Lê Tuấn D cũng có đơn đề nghị được ở với chị L. Hơn nữa, anh T cũng có quan điểm đồng ý để chị L nuôi con, vì hiện tại anh T đang chấp hành án, không có thời gian, điều kiện tốt nhất để chăm sóc con. Để bảo đảm cho sự ổn định về mặt tâm lý, sự phát triển về mọi mặt cho các con nên: Giao con Lê Tuấn D cho chị Phan Thị Thảo L trực tiếp nuôi cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Về việc chia tài sản: Chị Phan Thị Thảo L và anh Lê Anh T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí:
[7] Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Phan Thị Thảo L phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
[8] Chị Phan Thị Thảo L và anh Lê Văn T được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147; b khoản 2 Điều 227; Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phan Thị Thảo L.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị Thảo L được ly hôn anh Lê Văn T.
- Về việc nuôi con: Giao con chung là Lê Tuấn D, sinh ngày 14/5/2012 cho chị Phan Thị Thảo L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chị Phan Thị Thảo L không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về việc chia tài sản: Chị Phan Thị Thảo L và anh Lê Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Phan Thị Thảo L phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005664 ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Chị Phan Thị Thảo L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án:
Chị Phan Thị Thảo L và anh Lê Văn T vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy đình của pháp luật.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Bích Phượng |
Bản án số 55/2024/HNGĐ-ST ngày 12/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 55/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Thị Thảo L - Lê Văn T
