|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG TỈNH ĐỒNG THÁP Bản án số: 55/2024/DS-ST Ngày 29 - 11-2024 “V/v Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyền.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Sinh;
Bà Bùi Nguyễn Tuyết Minh.
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Liếng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng tham gia phiên tòa: Ông Lê Công Hậu – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 18/11 và ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số: 249/2023/TLST-DS ngày 11 tháng 10 năm 2023, về việc “Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2024/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 43/2024/QĐST-DS ngày 18 tháng 11 năm 2024, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị M, sinh năm 1978
Địa chỉ: ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp
- Bị đơn:
- Anh Huỳnh Văn Tùng A, sinh năm 1974
- Chị Phan Thị Mỹ L, sinh năm 1973
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
(Chị M có mặt; bị đơn anh Huỳnh Văn T Anh vắng mặt có đơn, bị đơn chị Phan Thị Mỹ L triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có đơn).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
- Theo đơn kiện của chị Phạm Thị M, ý kiến của chị M trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa như sau:
Vào tháng 5 năm 2021 chị có nhận chuyển nhượng đất của vợ chồng anh Huỳnh Văn Tùng A, chị Phan Thị Mỹ L số đất là 50 công tầm cắt với giá là 45.833.000 đồng/một công. Phần đất chị nhận chuyển nhượng thuộc các thửa 1156, 1166, 1171, 1172 cùng tờ bản đồ số 12, thửa 1376, 120 cùng tờ bản đồ 06. Tổng diện tích chị nhận chuyển nhượng của vợ chồng anh Tùng A là 65.227m² địa chỉ thửa đất thuộc xã H, huyện T, tỉnh Long An. Sau khi chuyển nhượng thì chị cho vợ chồng anh Tùng A thuê lại mỗi năm là 100.000.000 đồng/50 công tầm cắt, thời hạn thuê là 1,5 năm (03 vụ) từ tháng 4/2021 đến tháng 7 năm 2022 với số tiền thuê là 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng), vợ chồng anh Tùng A trả tiền thuê cho chị được 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng), còn nợ lại 90.000.000 đồng (chín mươi triệu đồng) hứa sẽ trả sau nhưng không trả. Trước đây, chị yêu cầu anh Huỳnh Văn Tùng A và chị Phan Thị Mỹ L liên đới trả tiền thuê đất còn nợ gốc 90.000.000đồng và tiền lãi là 21.600.000đồng tính từ tháng 7 năm 2022 đến tháng 10/2023 là 15 tháng, lãi suất 1,6%/tháng. Tổng cộng gốc và lãi là 111.600.000đồng (Một trăm mười một triệu sáu trăm nghìn đồng) và yêu cầu tiếp tục tính lãi cho đến khi trả xong nợ.
Tại phiên tòa chị thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, chị thống nhất chỉ yêu cầu anh Huỳnh Văn Tùng A và chị Phan Thị Mỹ L cùng liên đới trả số tiền thuê đất gốc là 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng) như sự thừa nhận của anh Tùng A tại biên bản lấy lời khai của Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng, không yêu cầu tính lãi.
- Theo văn bản ý kiến + đơn xin vắng mặt của bị đơn anh Huỳnh Văn Tùng A và lời khai của anh Tùng A trong quá trình giải quyết vụ án thể hiện như sau:
Theo văn bản ý kiến, đơn xin vắng mặt đề ngày 22/12/2023 anh Tùng A có ý kiến là đối với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị M về việc cho rằng vợ chồng anh thuê đất thì anh không đồng ý. Hoàn toàn không có việc thuê đất nào giữa vợ chồng anh và bà M. Vào tháng 5 năm 2021 vợ chồng anh có chuyển nhượng đất ở xã H, huyện T, tỉnh Long An (theo hợp đồng chuyển nhượng ngày 05/5/2021). Số tiền chênh lệch từ việc chuyển nhượng đất chị M hứa sau khi sang tên xong sẽ trả nhưng do anh sơ suất khi ký hợp đồng chuyển nhượng đất có công chứng thì anh không để ý trong hợp đồng ghi là đã giao đủ tiền chuyển nhượng. Khi chuyển nhượng đất thì chị M đã tính toán cấn trừ tiền vợ chồng anh nợ chị M. Số tiền vợ chồng anh nhận sau khi cấn trừ là bao nhiêu thì anh không nhớ. Nếu chị M cho rằng vợ chồng anh mướn đất thì phải xuất trình được hợp đồng thuê đất, giá cả và thời hạn thuê bao lâu. Nếu có đủ chứng cứ thì vợ chồng anh chịu trách nhiệm trước pháp luật, còn không thì chị M phải rút đơn kiện lại vì ảnh hưởng đến công việc làm ăn của anh do phải đi lại nhiều lần. Do bận việc nên xin được vắng mặt tại phiên tòa xét xử của Tòa án.
- Bị đơn chị Phan Thị Mỹ L vắng mặt và không có văn bản ý kiến.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng phát biểu tại phiên tòa:
3
Về tố tụng:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng thủ tục tố tụng.
Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Phạm Thị M buộc anh Huỳnh Văn Tùng A và chị Phan Thị Mỹ L chịu trách nhiệm liên đới trả số tiền thuê đất còn nợ gốc là 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng), không tính lãi.
Kiến nghị khắc phục: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Đây là vụ kiện “Tranh chấp về hợp đồng thuê quyền sử dụng đất” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Tại phiên tòa nguyên đơn chị Phạm Thị M có mặt. Bị đơn anh Huỳnh Văn T Anh vắng mặt có đơn, bị đơn chị Phan Thị Mỹ L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có đơn. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xét xử vắng mặt đối với các bị đơn. Vì vậy, căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với đương sự nêu trên.
- Tại phiên tòa nguyên đơn chị Phạm Thị M thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, chị M tự nguyện thống nhất chỉ yêu cầu anh Huỳnh Văn Tùng A và chị Phan Thị Mỹ L cùng liên đới trả số tiền thuê đất còn nợ gốc là 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng), số tiền lãi thì chị M thống nhất không yêu cầu. Xét thấy, thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện và không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung tranh chấp:
Xét yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị M, Hội đồng xét xử nhận định:
Căn cứ khoản 1 Điều 502 của Bộ luật Dân sự quy định:
“1. Hợp đồng về quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản theo hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật này, pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Việc thực hiện hợp đồng về quyền sử dụng đất phải đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về đất đai và quy định khác có liên quan”
Theo điểm a khoản 4 Điều 95 Luật đất đai năm 2013 quy định:
4
“4. Đăng ký biến động được thực hiện đối với trường hợp đã được cấp Giấy chứng nhận hoặc đã đăng ký mà có thay đổi sau đây: a) Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất...”
Căn cứ theo đơn khởi kiện của chị Phạm Thị M yêu cầu vợ chồng anh Tùng A trả tiền thuê đất ruộng còn nợ ở xã H, huyện T, tỉnh Long An nhưng anh Tùng A không thừa nhận và không đồng ý trả. Xét thấy, tại biên bản ghi lời khai ngày 25/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An thì anh Huỳnh Văn Tùng A thừa nhận như sau “...tôi có thuê đất của bà M 50 công giá 100.000.000đồng/1 năm, đã trả được 60.000.000 đồng, còn nợ lại bà M 40.000.000 đồng...”. Theo quy định tại Điều 93 và Điều 94 của Bộ luật tố tụng dân sự thì lời khai này của anh Tùng A là chứng cứ của vụ án để xác định sự việc anh Tùng A đã thuê đất ruộng ở xã H, huyện T, tỉnh Long An của chị Phạm Thị M và còn nợ tiền thuê đất là có thật. Tuy nhiên, việc chị M yêu cầu bị đơn trả tiền thuê đất còn nợ từ tháng 4 năm 2021 là chưa phù hợp vì:
Căn cứ vào văn bản số 562/CNVPĐKĐĐ ngày 13/5/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T cung cấp thì “Ngày 05/5/2021, Chi nhánh có tiếp nhận hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa công Huỳnh Văn Tùng A và vợ là bà Phan Thị Mỹ L chuyển nhượng cho bà Phạm Thị M theo hợp đồng chuyển nhượng được Văn phòng C công chứng ngày 05/5/2021, số công chứng 1301, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD tại các thửa 1156, 1166, 1171, 1172 cùng tờ bản đồ số 12, các thửa số 1376, 120 cùng tờ bản đồ số 6...”. Bản sao các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T cung cấp thì chị Phạm Thị M được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 02/6/2021.
Tại khoản 1 Điều 168 Luật đất đai năm 2013 quy định về Thời điểm được thực hiện các quyền của người sử dụng đất như sau: “1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất khi có Giấy chứng nhận...” nên việc chị M trình bày cho thuê đất ruộng từ tháng 04 năm 2021 và yêu cầu vợ chồng anh Huỳnh Văn T Anh trả tiền thuê đất từ tháng 04 năm 2021, trước thời điểm chị M được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không có cơ sở và không phù hợp quy định pháp luật.
Đồng thời, lời khai của chị M còn nhiều mâu thuẫn về mốc thời gian thuê đất, theo tài liệu thu thập từ Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An thì Đơn kiện đề ngày 11/10/2022 của chị Phạm Thị M thể hiện “...Ông Huỳnh Văn Tùng A và bà Phan Thị Mỹ L đã chuyển nhượng và giao đất cho tôi sử dụng phần đất này từ tháng 05 năm 2021...” còn tại Đơn kiện đề ngày 02/10/2023 của chị Phạm Thị M nộp tại Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng thì chị M trình bày cho vợ chồng anh Tùng A thuê đất ruộng từ tháng 04/2021 nhưng chị M không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh việc chị M và vợ chồng anh Tùng A có văn bản thỏa thuận hoặc hợp đồng thuê đất từ tháng 04 năm 2021 đến tháng 07 năm 2022. Trong quá trình giải
5
quyết vụ án, Tòa án ra quyết định số 07/2024/QĐ-CCTLCC ngày 06/3/2024 để yêu cầu nguyên đơn chị Phạm Thị M cung cấp tài liệu, chứng cứ. Ngày 27/9/2024 Tòa án có quyết định số 63/2024/QĐ-CCTLCC để tiếp tục yêu cầu nguyên đơn chị Phạm Thị M cung cấp tài liệu, chứng cứ nhưng cả hai lần Tòa án yêu cầu thì nguyên đơn đều không cung cấp tài liệu, chứng cứ. Căn cứ khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự giải quyết theo quy định vì “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc đưa ra không đầy đủ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc.”
Tại phiên tòa, chị Phạm Thị M cũng thừa nhận việc chị cho vợ chồng anh Tùng A thuê đất ruộng ở xã H, huyện T, tỉnh Long An chỉ thỏa thuận miệng, không lập hợp đồng, không đăng ký biến động đối với quyền sử dụng đất. Việc các bên thỏa thuận thuê quyền sử dụng đất nhưng không thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 95, khoản 3 Điều 188 của Luật đất đai là những hành vi bị nghiêm cấm theo khoản 6 Điều 12 của Luật đất đai. Do đó, Tòa án căn cứ vào sự thừa nhận của bị đơn Huỳnh Văn Tùng A về việc còn nợ tiền thuê đất 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng) tại biên bản ghi lời khai ngày 25/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An để xem xét đối với số tiền thuê đất còn nợ mà chị Phạm Thị M yêu cầu tại phiên tòa là 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng).
Về trách nhiệm liên đới: Chị Phạm Thị M yêu cầu anh Huỳnh Văn Tùng A và vợ là chị Phan Thị Mỹ L liên đới trả số tiền thuê đất còn nợ gốc là 40.000.000 đồng nhưng anh Huỳnh Văn T Anh không đồng ý việc vợ anh liên đới trả số tiền này. Theo khoản 2 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “2. Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó”. Trong quá trình giải quyết vụ án thì Tòa án đã triệu tập chị Phan Thị Mỹ L theo quy định nhưng chị L đều vắng mặt và không có văn bản ý kiến gửi đến Tòa án. Chị L đã không thực hiện các quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều này, đồng nghĩa với việc chị L không bác bỏ yêu cầu khởi kiện và tài liệu chứng cứ mà chị M cung cấp cũng như Tòa án thu thập. Theo trích lục kết hôn số 565/TLKH-BS ngày 17/9/2024 và văn bản số 433/UBND ngày 17/9/2024 của Ủy ban nhân dân xã T cung cấp thông tin “Ông Huỳnh Văn Tùng A, sinh năm 1974 và bà Phan Thị Mỹ L, sinh năm 1973 đã đăng ký kết hôn vào ngày 13/4/2004, số vào sổ: 48/2004...”. Căn cứ vào Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “1. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30 hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật này. 2. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này”. Số tiền thuê đất còn nợ trong thời kỳ hôn nhân nên chị Phan Thị Mỹ L phải có trách nhiệm liên đới với chồng là anh Huỳnh Văn T Anh trả nợ theo quy định tại Điều 27 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử nhận định chị Phạm Thị M kiện yêu cầu anh Huỳnh Văn Tùng A và chị Phan Thị Mỹ L liên đới trả số tiền thuê đất còn nợ
6
gốc 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng), không tính lãi là có căn cứ nên chấp nhận. Ngoài số tiền này thì các bị đơn không còn nợ nguyên đơn số tiền nào khác.
[4] Xét ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng tại phiên tòa có căn cứ và phù hợp với nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Các bị đơn phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 500 và Điều 502 của Bộ luật Dân sự;
Áp dụng Điều 12, Điều 95, Điều 168 và Điều 188 Luật đất đai năm 2013;
Áp dụng Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 91, Điều 92, Điều 93, Điều 94, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 244, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/1/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị M.
Buộc các bị đơn anh Huỳnh Văn Tùng A và chị Phan Thị Mỹ L liên đới trả cho chị Phạm Thị M số tiền thuê đất ruộng ở xã H, huyện T, tỉnh Long An còn nợ gốc là 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng), không tính lãi. Ngoài số tiền này thì anh Huỳnh Văn Tùng A và chị Phan Thị Mỹ L không còn nợ chị Phạm Thị M số tiền nào khác.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
7
Nguyên đơn chị Phạm Thị M không phải chịu tiền án phí được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.790.000 đồng (Hai triệu, bảy trăm chín mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002821 ngày 11/10/2023;
Buộc các bị đơn anh Huỳnh Văn Tùng A và chị Phan Thị Mỹ L liên đới chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).
Nguyên đơn chị Phạm Thị M có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (29/11/2024). Các bị đơn anh Huỳnh Văn Tùng A và chị Phan Thị Mỹ L vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30, Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Tuyền |
8
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bùi Văn S - Bùi Nguyễn Tuyết Minh Nguyễn Thị T1
9
Bản án số 55/2024/DS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
- Số bản án: 55/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả tiền thuê đất 40 triệu đồng
