Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CƯ JÚT

TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2024/HS-ST

Ngày: 29/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tím;
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Yến, bà Nguyễn Thị Khuyên;
  • Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Uyên – Thư ký TAND huyện Cư Jút.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút tham gia phiên tòa: Ông Nông Quốc Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cư Jút xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 49/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Thành C, sinh năm 2006 tại tỉnh Đăk Nông; Nơi thường trú: Thôn B, xã N, huyện C, tỉnh Đăk Nông; Nơi ở hiện tại: Thôn H, xã Đ, huyện C, tỉnh Đăk Nông; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Quốc V, sinh năm 1984 và bà Đặng Thị H, sinh năm 1986. Tiền án, tiền sự: Không. Hiện đang tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân huyện Cư Jút - Có mặt.

- Bị hại: Anh Nguyễn Công N; Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện C, tỉnh Đăk Nông. Vắng mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Võ Văn V1; Địa chỉ: Thôn T xã Đ, huyện C, tỉnh Đăk Nông. Vắng mặt
  2. Anh Vũ Đình P; Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện C, tỉnh Đăk Nông. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 14/7/2024, Phạm Thành C điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47AB – 154.62, nhãn hiệu Việt Thái đến của hàng điện thoại di động Công Nguyện tại thôn T, xã Đ, huyện C để bán chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu xám xanh cho anh Nguyễn Công N là chủ cửa hàng với giá 6.000.000 đồng. Việc mua bán giữa C và anh N có viết giấy thỏa thuận mua bán điện thoại. Số tiền bán điện thoại C yêu cầu anh N chuyển hai lần vào tài khoản chơi game của C, lần thứ nhất chuyển số tiền 2.000.000 đồng, lần thứ hai chuyển số tiền 4.000.000 đồng. Khoảng 19 giờ cùng ngày C tiếp tục đến của hàng điện thoại của anh N gặp và thỏa thuận với anh N như sau: C để lại chiếc điện thoại Iphone 12 Promax làm tin và nói với anh N chuyển số tiền 6.000.000 đồng vào tài khoản chơi Game của C thì anh N đồng ý. Do đã bán và để lại điện thoại làm tin nên C không có điện thoại để sử dụng nên C nói với anh N mượn lại chiếc điện thoại Iphone 11 Promax đã bán trước đó để vào tài khoản chơi game kiểm tra và chơi game tại cửa hàng. Do anh N và C không quen biết nhau nên anh N chỉ cho C mượn điện thoại Iphone 11promax sử dụng tại cửa hàng và trong phạm vi giám sát, quản lý của anh N. C sử dụng được khoảng 10 phút thì anh N đi vào nhà, thấy anh N đi ra phía sau nhà, lúc này không có người giám sát, quản lý nên C nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại trên, C bỏ chiếc điện thoại váo túi quần rồi điều khiển xe mô tô chạy về nhà. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, C tìm gặp anh Võ Văn V1 tại quán C1 thuộc thôn T, xã Đ và bán chiếc điện thoại trên cho anh V1 với giá 7.000.000 đồng. Số tiền trên anh V1 chuyển vào tài khoản chơi game theo yêu cầu của C. Anh N sau khi quay lại phát hiện C đã lấy điện thoại và rời khỏi cửa hàng nên đã trình báo Công an xã Đ.

Trong quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đã thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xám xanh; 01 xe mô tô biển kiểm soát 47AB – 154.64 nhãn hiệu Việt Thái; 01 đoạn video có tên 5826781409471, có độ dài 02 phút 09 giây với dung lượng 11,454 KB được lưu trong USB.

Trong quá trình điều tra đã làm rõ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xám xanh là tài sản của anh Nguyễn Công N; 01 xe mô tô biển kiểm soát 47AB – 154.64 nhãn hiệu Việt Thái là tài sản của anh Vũ Đình P. Chiếc xe trên là do chị Trần Vũ N1 (sinh năm 2001, địa chỉ: Thôn D, xã H, thành phố B, tỉnh Đăk Lắk) đứng tên đăng ký xe, anh P mua lại của chị N1 nhưng chưa làm thủ tục đăng ký sang tên. Anh P cho C mượn làm phương tiện đi lại. Ngày 14/7/2024 C sử dụng chiếc xe mô tô trên, sau đó thực hiện hành vi phạm tội.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 47/KL – HĐĐGTS ngày 25/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11Promax màu xám xanh tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị 5.600.000 đồng

Cáo trạng số 53/CTr-VKS, ngày 30/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút đã truy tố bị cáo Phạm Thành C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút thực hành quyền công tố luận tội và tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Thành C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Thành C từ 07 đến 09 tháng tù, nhưng được hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 14 đến 18 tháng.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46; Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sư:

Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện C ra quyết định xử lý vật chứng trả: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xám xanh cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Công N; 01 xe mô tô biển kiểm soát 47AB – 154.64 nhãn hiệu Việt Thái cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Vũ Đình P.

Tiếp tục lưu hồ sơ 01 USB có lưu đoạn video dài 02 phút 09 giây, có dung lượng 11,454KB.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Công N và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Võ Văn V1 không yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết.

Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được thẩm tra công khai tại phiên toà, do đó Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 20 giờ 15 phút, ngày 14/7/2024, tại cửa hàng Đ thuộc thôn T, xã Đ, huyện C, Phạm Thành C có hành vi trộm cắp của anh Nguyễn Công N 01 điện thoại Iphone 11 Promax có trị giá là 5.600.000 đồng.

Như vậy, với hành vi mà bị cáo đã thực hiện, giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt, đã đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Phạm Thành C phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...”.

[3]. Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền về tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an ở địa phương, gây tổn thất về vật chất cho bị hại. Do đó cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra nhằm giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.

[4]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thường cho bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Võ Văn V1 và được bị hại bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ để áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng, cụ thể, có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù thì không ảnh hưởng xấu đến công tác đấu tranh, phòng, chống tội phạm. Xét thấy không cần bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, vì vậy cần áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương và gia đình bị cáo phối hợp giám sát, giáo dục, thể hiện chính sách khoan hồng và nhân đạo của pháp luật.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Công N và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Võ Văn V1 không yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết.

[6]. Đối với anh Võ Văn V1 là người mua điện thoại của Phạm Thành C, tuy nhiên anh V1 không biết đó là tài sản do C trộm cắp mà có nên không có căn cứ để xử lý đối với anh V1.

[7]. Đối với anh Vũ Đình P là chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển kiểm soát 47AB -154.62, ngày 14/7/2024 Phạm Thành C sử dụng xe mô tô trên sau đó thực hiện hành vi phạm tội, tuy nhiên anh P không biết nên không có căn cứ để xử lý đối với anh P.

[8]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46; Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sư:

Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện C ra quyết định xử lý vật chứng trả: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xám xanh cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Công N; 01 xe mô tô biển kiểm soát 47AB – 154.64 nhãn hiệu Việt Thái cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Vũ Đình P.

Tiếp tục lưu hồ sơ 01 USB có lưu đoạn video dài 02 phút 09 giây, có dung lượng 11,454KB

[9]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí toà án. Buộc bị cáo Phạm Thành C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cư Jút.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Phạm Thành C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Áp dụng: Khoản 1 Điều 173, điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự.

    Xử phạt bị cáo Phạm Thành C 09 tháng tù, nhưng được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Phạm Thành C cho UBND xã Đ, huyện C, tỉnh Đắk Nông để giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo

  2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 46; Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sư:

    Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện C ra quyết định xử lý vật chứng trả: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xám xanh cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Công N; 01 xe mô tô biển kiểm soát 47AB – 154.64 nhãn hiệu Việt Thái cho chủ sở hữu hợp pháp tlà anh Vũ Đình P.

    Tiếp tục lưu hồ sơ 01 USB có lưu đoạn video dài 02 phút 09 giây, có dung lượng 11,454KB

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí toà án. Buộc bị cáo Phạm Thành C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đăk Nông;
  • - VKSND tỉnh Đăk Nông;
  • - VKSND huyện Cư Jút;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đăk Nông;
  • - Bộ phận HSNVCS-CA huyện Cư Jút;
  • - Cơ quan THAHS-CA huyện Cư Jút;
  • - Chi cục THADS huyện Cư Jút ;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Thị Tím

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐẮK NÔNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 55/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thành Ch phạm tội "Trộm cắp tài sản", theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger