Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÒA BÌNH

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2024/DS-ST

Ngày 11 tháng 11 năm 2024

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Liêu Tài Ngoánh

- Ông Huỳnh Tài Em

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Hậu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Trần Trung Kiên – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 11/2024/TLST-DS ngày 15 tháng 01 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2023/QĐST-DS ngày 12/8/2024; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 50/2024/QĐST-DS ngày 12/9/2024; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 59/2024/QĐST-DS ngày 11/10/2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ Phần S1.

Trụ sở chính: Số B - B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D- Chức vụ: Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Diệp Lâm Kỳ P – Giám đốc Ngân hàng TMCP S1 - Chi nhánh tỉnh B (Quyết định ủy quyền số 3524/2023/QĐ-PC ngày 25/12/2023).

Ông Diệp Lâm Kỳ P ủy quyền tham gia tố tụng cho ông: Vưu Long –Trưởng phòng kiểm soát rủi ro của Ngân hàng TMCP S1 - Chi nhánh tỉnh B. (Giấy ủy quyền số 1232/2023/GUQ-CNBL ngày 26/12/2023).

2. Bị đơn: Ông Sơn Hoàng T, sinh năm 1986

Lê Thị Ngọc T1, sinh năm 1986

Cùng địa chỉ: Ấp 17, xã Vĩnh Hậu A, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Ông Sơn T2, sinh năm 1950
  • Bà Trần Thị Sà R, sinh năm 1957
  • Cùng địa chỉ: Ấp A, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

  • Bà Sơn Thị Tuyết N
  • Ông Đoàn Văn H
  • Chị Đoàn Thị M, sinh năm 2006
  • Em Đoàn Văn T3, sinh năm 2008
  • Cùng địa chỉ: Ấp A, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

    Người đại diện hợp pháp của em T3 là bà Sơn Thị Tuyết N, ông Đoàn Văn H.

  • Ông Sơn Hoàng T4, sinh năm 1982
  • Bà Võ Ngọc T5
  • Em Sơn Hoàng N1, sinh năm 2009
  • Em Sơn Thị Thúy Q, sinh năm 2012
  • Cùng địa chỉ: Ấp A, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

    Người đại diện hợp pháp của em N1, em Q là ông Sơn Hoàng T4, bà Võ Thị T6.

  • Ông Sơn Hoàng T7, sinh năm 1980
  • Bà Nguyễn Thị Hai
  • Anh Sơn Hoàng Thắng, sinh năm 1999
  • Anh Sơn Hoàng C, sinh năm 2001
  • Anh Sơn Hoàng T9, sinh năm 2001
  • Cùng địa chỉ: Ấp A, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu

(Ông Vưu L, ông T2, bà R có đơn xin xét xử vắng mặt; Các đương sự còn lại vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn Ngân hàng TMCP S1 trình bày: Ngày 10/5/2022, giữa Ngân hàng TMCP S1 với ông Sơn Hoàng T và bà Lê Thị Ngọc T10 ký Hợp đồng tín dụng số [...] thống nhất về việc vay số tiền 830.000.000 đồng (Tám trăm ba mươi triệu đồng), mục đích vay: mua sắm vật dụng gia đình, thời hạn vay: 120 thángkỳ hạn trả nợ: 06 tháng/01 lần kể từ ngày giải ngân đầu tiên. Lãi suất cho vay: 12 tháng đầu tiên là 10,5%/năm, tại thời điểm bắt đầu tháng 13 kể từ ngày giải ngân lãi suất của toàn bộ dư nợ vay được áp dụng theo mức lãi suất cơ sở của Ngân hàng C1 3,4%/năm và được điều chỉnh theo định kỳ 03 tháng/lần phù hợp với quy định của Nhà nước về lãi suất cho vay. Ngày 10/5/2022, ông Sơn Hoàng T và bà Lê Thị Ngọc T11 nhận đủ số tiền vay theo Hợp

đồng tín dụng trên theo giấy nhận nợ số 001. Từ ngày giải ngân đến nay ông T, bà T1 đã thanh toán cho Ngân hàng được số tiền vốn và lãi là 167.989.158 đồng (trong đó vốn là 83.000.000 đồng, lãi là 84.989.158 đồng). Kể từ ngày 11/11/2023, ông Sơn Hoàng T và bà Lê Thị Ngọc T12 trả nợ đúng hạn, phát sinh nợ quá hạn, vi phạm Hợp đồng nhiều lần nhưng không khắc phục theo yêu cầu của Ngân hàng. Tính đến ngày 11/11/2024, tổng số tiền nợ mà ông Sơn Hoàng T và bà Lê Thị Ngọc T13 cho Ngân hàng là: 934.901.196 đồng, cụ thể như sau: nợ gốc: 747.000.000 đồng, nợ lãi: 187.901.196 đồng (Lãi trong hạn: 141.960.969 đồng; Lãi quá hạn: 45.940.500 đồng).

Ngày 20/5/2020, Ngân hàng TMCP S1 với ông Sơn Hoàng T, bà Lê Thị Ngọc T1 đã ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số [...], ngày 10/5/2022 Ngân hàng TMCP S1 với ông Sơn Hoàng T, bà Lê Thị Ngọc T1 đã ký thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp tài sản số [...]-001. Trong đó, các bên cùng thống nhất về việc thế chấp tài sản là Quyền sử dụng đất của bên thế chấp đối với phần đất diện tích 23.958m² tại các thửa đất số 10-1, 10-2, 13, 498-1, 498-2, tờ bản đồ số 05, 06 tọa lạc tại Ấp A, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Sơn Hoàng T và bà Lê Thị Ngọc T1, theo giấy chứng nhận QSDĐ số phát hành O 0618246, số vào sổ 01915 QSDĐ/527/2000 do UBND huyện V (nay là Huyện H) cấp ngày 26/10/2000 để bảo đảm thực hiện cho toàn bộ nghĩa vụ thanh toán của ông Sơn Hoàng T và bà Lê Thị Ngọc T1 tại Ngân hàng.

Ngày 23/10/2024 Ngân hàng TMCP S1 có đơn xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu phát mãi phần đất diện tích theo đo đạc thực tế là 1.288,3m² có 04 căn nhà của ông Sơn T2, Sơn Thị Tuyết N, Sơn Hoàng T7, Sơn Hoàng T4 và phần mồ mã, trong đó có 1.050,8m² thuộc thửa đất số 48, tờ bản đồ số 10 (thửa số 498, tờ bản đồ số 06 cũ); 237,5m² thuộc thửa đất số 45, tờ bản đồ số 10 (thửa số 10, tờ bản đồ số 05 cũ).

Nay Ngân hàng TMCP S1 yêu cầu ông Sơn Hoàng T và và Lê Thị Ngọc T1 phải thanh toán cho Ngân hàng số nợ theo hợp đồng tín dụng tính đến ngày 11/11/2024, tổng số tiền nợ mà ông Sơn Hoàng T và bà Lê Thị Ngọc T13 cho Ngân hàng là: 934.901.196 đồng, cụ thể như sau: nợ gốc: 747.000.000 đồng, nợ lãi: 187.901.196 đồng (Lãi trong hạn: 141.960.969 đồng; Lãi quá hạn: 45.940.500 đồng) và lãi phát sinh kể từ ngày 12/11/2024 cho khi ông T, bà T1 thanh toán dứt nợ. Trường hợp ông T, bà T1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp phần đất còn lại có diện tích theo đo đạc thực tế là 20.346,8m², trong đó 9469,5m² thuộc thửa 498, tờ bản đồ số 02 (thửa 13, tờ bản đồ số 05 cũ); 8231m² thuộc thửa 45, tờ bản đồ số 10 (thửa số 10, tờ bản đồ số 05 cũ); 2646,3m² số 48, tờ bản đồ số 10 (thửa số 498, tờ bản đồ số 06 cũ) tọa lạc tại Ấp A, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Sơn Hoàng T và bà Lê Thị Ngọc T1, theo giấy chứng nhận QSDĐ số phát hành O 0618246, số vào sổ 01915 QSDĐ/527/2000 do UBND huyện V (nay là Huyện H) cấp ngày 26/10/2000 để thu hồi nợ.

* Bị đơn ông Sơn Hoàng T và bà Lê Thị Ngọc T1 vắng mặt tại phiên tòa. Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng nhưng ông T, bà T1 không đến Tòa án tham gia tố tụng hoặc gửi văn bản trình bày ý

kiến, yêu cầu của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Sơn T2 trình bày: Ông là cha ruột của ông Sơn Hoàng T và là cha chồng của bà Lê Thị Ngọc T1. Ông có biết việc ông Sơn Hoàng T và bà Lê Thị Ngọc T1 thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 618246, có số vào sổ số 01915/QSDĐ/527/2000 do UBND huyện V cấp cho hộ ông S Tắc ngày 26/10/2000, tặng cho ông Sơn Hoàng T, sinh năm 1986 ngày 12/12/2018 đối với phần đất diện tích 23.958m² tại các thửa 10, 13, 498 tờ bản đồ số 05 tọa lạc tại Ấp A, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu để vay tiền tại Ngân hàng TMCP S1 nhưng ông không liên quan đến việc vay tiền của ông T, bà T1. Phần đất thế chấp hiện nay có 01 phần do gia đình ông và các con ông đang quản lý, sử dụng để ở. Do Ngân hàng đã rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu phát mãi phần đất diện tích theo đo đạc thực tế là 1.288,3m² có 04 căn nhà của tôi, Sơn Thị Tuyết N, Sơn Hoàng T7, Sơn Hoàng T4 và phần mồ mã, trong đó có 1.050,8m² thuộc thửa đất số 48, tờ bản đồ số 10 (thửa số 498, tờ bản đồ số 06 cũ); 237,5m² thuộc thửa đất số 45, tờ bản đồ số 10 (thửa số 10, tờ bản đồ số 05 cũ) nên không làm ảnh hưởng đến phần nhà đất của ông và các con ông đang ở nên ông đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với ông T, bà T1, ông yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật và không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.

* Quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Sà R trình bày: Bà là mẹ ruột của ông Sơn Hoàng T và là mẹ chồng của bà Lê Thị Ngọc T1. Bà biết việc ông Sơn Hoàng T và bà Lê Thị Ngọc T1 thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 618246, có số vào sổ số 01915/QSDĐ/527/2000 do UBND huyện V cấp cho hộ ông S Tắc ngày 26/10/2000, tặng cho ông Sơn Hoàng T, sinh năm 1986 ngày 12/12/2018 đối với phần đất diện tích 23.958m² tại các thửa 10, 13, 498 tờ bản đồ số 05 tọa lạc tại Ấp A, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu để vay tiền tại Ngân hàng TMCP S1 nhưng ông không liên quan đến việc vay tiền của ông T, bà T1. Phần đất thế chấp hiện nay có 01 phần do gia đình bà và các con đang quản lý, sử dụng để ở. Nay bà đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng và yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật và không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, từ khi thụ lý đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S1 buộc ông Sơn Hoàng T và và Lê Thị Ngọc T1 phải thanh toán cho Ngân hàng số nợ theo hợp đồng tín dụng tính đến ngày 11/11/2024, tổng số tiền nợ mà ông Sơn Hoàng T và bà Lê Thị Ngọc T13 cho Ngân hàng là: 934.901.196 đồng, cụ thể như sau: nợ gốc: 747.000.000 đồng, nợ lãi: 187.901.196 đồng (Lãi trong hạn: 141.960.969 đồng; Lãi quá hạn: 45.940.500 đồng) và lãi phát sinh kể từ ngày 12/11/2024 cho khi ông T, bà T1 thanh toán dứt nợ. Trường hợp ông T, bà T1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp phần đất còn lại có diện tích

theo đo đạc thực tế là 20.346,8m², trong đó 9469,5m² thuộc thửa 498, tờ bản đồ số 02 (thửa 13, tờ bản đồ số 05 cũ); 8231m² thuộc thửa 45, tờ bản đồ số 10 (thửa số 10, tờ bản đồ số 05 cũ); 2646,3m² số 48, tờ bản đồ số 10 (thửa số 498, tờ bản đồ số 06 cũ) tọa lạc tại Ấp A, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Sơn Hoàng T và bà Lê Thị Ngọc T1, theo giấy chứng nhận QSDĐ số phát hành O 0618246, số vào sổ 01915 QSDĐ/527/2000 do UBND huyện V (nay là Huyện H) cấp ngày 26/10/2000 để thu hồi nợ.

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu phát mãi phần đất diện tích theo đo đạc thực tế là 1.288,3m² có 04 căn nhà của ông Sơn T2, Sơn Thị Tuyết N, Sơn Hoàng T7, Sơn Hoàng T4 và phần mồ mã, trong đó có 1.050,8m² thuộc thửa đất số 48, tờ bản đồ số 10 (thửa số 498, tờ bản đồ số 06 cũ); 237,5m² thuộc thửa đất số 45, tờ bản đồ số 10 (thửa số 10, tờ bản đồ số 05 cũ).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ngân hàng TMCP S1 khởi kiện yêu cầu ông Sơn Hoàng T và bà Lê Thị Ngọc T1 trả số tiền nợ còn thiếu theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa hai bên nên đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông Sơn Hoàng T và bà Lê Thị Ngọc T1 có nơi cư trú tại xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt do có đơn xin xét xử vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Sơn T2, bà Trần Thị Sà R vắng mặt do có đơn xin xét xử vắng mặt; đồng bị đơn ông Sơn Hoàng T và bà Lê Thị Ngọc T1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Sơn Hoàng T7, bà Nguyễn Thị H1, anh Sơn Hoàng T8, anh Sơn Hoàng C, anh Sơn Hoàng T9, ông Sơn Hoàng T4, bà Võ Ngọc T5, bà Sơn Thị Tuyết N, ông Đoàn Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ theo điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Căn cứ hợp đồng tín dụng số [...] ngày 10/5/2022 về việc Ngân hàng cho ông T, bà T1 vay số tiền 830.000.000 đồng (Tám trăm ba mươi triệu đồng), mục đích vay: mua sắm vật dụng gia đình, thời hạn vay: Y_1 120 thángkỳ hạn trả nợ: 06 tháng/01 lần kể từ ngày giải ngân đầu tiên. Lãi suất cho vay: 12 tháng đầu tiên là 10,5%/năm, tại thời điểm bắt đầu tháng 13 kể từ ngày giải ngân lãi suất của toàn bộ dư nợ vay được áp dụng theo mức lãi suất cơ sở của Ngân hàng C1 3,4%/năm và được điều chỉnh theo định kỳ 03 tháng/lần phù hợp với quy định của Nhà nước về lãi suất cho vay. Ngày 10/5/2022 ông Sơn Hoàng T và bà Lê Thị Ngọc T1 đã nhận đủ

số tiền vay theo hợp đồng tín dụng trên. Xét thấy, hợp đồng tín dụng trên được các bên tự nguyện ký kết, hình thức, nội dung thỏa thuận của các bên là phù hợp theo quy định tại khoản 3 Điều 108 Luật các tổ chức tín dụng.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xác định trong quá trình thực hiện hợp đồng, từ ngày nhận nợ đến nay ông T, bà T1 trả nợ không đúng hạn, phát sinh nợ quá hạn. Do ông T, bà T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn.

Xét thấy, từ ngày giải ngân đến nay ông T, bà T1 chỉ thanh toán cho Ngân hàng được số tiền vốn và lãi là 167.989.158 đồng (trong đó vốn là 83.000.000 đồng, lãi là 84.989.158 đồng), kể từ ngày 11/11/2023, ông Sơn Hoàng T và bà Lê Thị Ngọc T12 trả nợ đúng hạn, phát sinh nợ quá hạn, vi phạm Hợp đồng nhiều lần nhưng không khắc phục theo yêu cầu của Ngân hàng. Ông Sơn Hoàng T và bà Lê Thị Ngọc T1 đã vi phạm hợp đồng, không thực hiện đúng thỏa thuận trả nợ đã giao kết trong hợp đồng nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông T, bà T1 trả nợ vay theo hợp đồng tín dụng với tổng số tiền nợ tính đến hết ngày 11/11/2024 là: 934.901.196 đồng, cụ thể như sau: nợ gốc : 747.000.000 đồng, nợ lãi: 187.901.196 đồng (Lãi trong hạn: 141.960.969 đồng; Lãi quá hạn: 45.940.500 đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 12/11/2024 đến khi ông T, bà T1 trả hết nợ cho Ngân hàng theo lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét hợp đồng tín dụng số [...] ngày 10/5/2022 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần S1 với ông Sơn Hoàng T và bà Lê Thị Ngọc T1 là phù hợp quy định pháp luật. Quá trình thực hiện hợp đồng ông T, bà T1 không thanh toán đầy đủ nợ vay cho Ngân hàng đúng thời hạn theo hợp đồng tín dụng đã ký kết nên đã vi phạm nghĩa vụ của người vay. Do đó, Ngân hàng khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng với ông T, bà T1 là có căn cứ chấp nhận.

Lãi suất cho vay 12 tháng đầu tiên là 10,5%/năm, tại thời điểm bắt đầu tháng 13 kể từ ngày giải ngân lãi suất của toàn bộ dư nợ vay được áp dụng theo mức lãi suất cơ sở của Ngân hàng C1 3,4%/năm và được điều chỉnh theo định kỳ 03 tháng/lần phù hợp với quy định của Nhà nước về lãi suất cho vay. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất vay ngay trước thời điểm phát sinh nợ quá hạn là phù hợp, đúng theo quy định tại các Điều 100 và 108 Luật các Tổ chức tín dụng.

Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng về việc yêu cầu ông T, bà T1 trả khoản nợ tính đến ngày hết ngày 11/11/2024 là: 934.901.196 đồng, cụ thể nợ gốc: 747.000.000 đồng, nợ lãi: 187.901.196 đồng (Lãi trong hạn: 141.960.969 đồng; Lãi quá hạn: 45.940.500 đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 12/11/2024 đến khi ông T, bà T1 trả hết nợ cho Ngân hàng theo lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng.

[2.2] Xét hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số [...] ngày 20/5/2020 và thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp tài sản số [...]-001 ngày 10/5/2022. Trong đó, các bên cùng thống nhất về việc thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất của bên thế chấp đối với phần đất diện tích

23.958m² tại các thửa đất số 10-1, 10-2, 13, 498-1, 498-2, tờ bản đồ số 05, 06 tọa lạc tại Ấp A, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Sơn Hoàng T và bà Lê Thị Ngọc T1, theo giấy chứng nhận QSDĐ số phát hành O 0618246, số vào sổ 01915 QSDĐ/527/2000 do UBND huyện V (nay là Huyện H) cấp ngày 26/10/2000 để bảo đảm thực hiện cho toàn bộ nghĩa vụ thanh toán của ông Sơn Hoàng T và bà Lê Thị Ngọc T1 tại Ngân hàng.

Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 19/3/2024 xác định phần đất thế chấp hiện nay vẫn giữ nguyên hiện trạng không có sự thay đổi so với thời điểm thế chấp. Trên các phần đất thế chấp có tài sản như sau:

  • Căn nhà thứ nhất có chiều ngang 4,4m, dài 16,01m, diện tích 70,4m². Có kết cấu: Vách xây gạch phía trước, phía sau vách lá, tol thiếc, không có cửa. hiện do ông Đoàn Văn H, bà Sơn Thị Tuyết N, em Đoàn Văn H, em Đoàn Thị M đang quản lý, sử dụng.
  • Căn nhà thứ hai có chiều ngang 7,24m, dài 25,21m, diện tích 197m². Có kết cấu: Vách tol thiếc, cột xi măng, mặt trước ốp gạch men, nền gạch men, mái tol cimen, cửa nhôm, hiện do ông Sơn Hoàng T4, bà Võ Ngọc T5, em Sơn Hoàng N1, em Sơn Thị Thúy Q đang quản lý, sử dụng.
  • Căn nhà thứ ba: nhà trước có chiều ngang 18,8m, dài phía bên trái từ lộ nhìn vào là 8,49m, phía bên phải từ lộ nhìn vào là 5,84m; nhà sau ngang 4,48m, dài bên trái là 8,36m, phải là 11,02m, diện tích 108,6m². Có kết cấu: vách dưới xây tường, trần la phông, mái lợp tol thiếc, nền lót gạch men, cửa nhôm. Hiện ông Sơn T2, bà Trần Thị Sà R quản lý, sử dụng.
  • Căn thứ tư: Phần sân phía trước có chiều ngang 7,48m, dài 2,44m, có kết cấu nền tráng xin măng, xung quanh có hàng rào B40 cao 02m; Phần nhà ngang 3,88m, dài 13,38m, diện tích 51,91m², có kết cấu vách thiếc, cửa nhôm, lợp tol cinmen, Hiện ông Sơn Hoàng T7, bà Nguyễn Thị H1, anh Sơn Hoàng T8, anh Sơn Hoàng T9, anh Sơn Hoàng C đang quản lý, sử dụng.

Ngoài ra, trên đất còn có 01 ngôi mộ ngang 3,07m, dài 4,91m, diện tích 15,1m, có kết cấu gạch tráng xi măng.

Xét thấy về hình thức nội dung hợp đồng thế chấp phù hợp theo quy định của pháp luật, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng, trường hợp ông T, bà T1 không có khả năng thanh toán nợ Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp và tài sản trên đất để thu hồi nợ theo quy định pháp luật.

[3] Ngày 23/10/2024 Ngân hàng TMCP S1 có đơn xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu phát mãi phần đất diện tích theo đo đạc thực tế là 1.288,3m² có 04 căn nhà của ông Sơn T2, bà Sơn Thị Tuyết N, ông Sơn Hoàng T7, ông Sơn Hoàng T4 và phần mồ mã, trong đó có 1.050,8m² thuộc thửa đất số 48, tờ bản đồ số 10 (thửa số 498, tờ bản đồ số 06 cũ) và 237,5m² thuộc thửa đất số 45, tờ bản đồ số 10 (thửa số 10, tờ bản đồ số 05 cũ). Xét thấy đây là sự tự nguyện, không trái với quy định pháp luật nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu này.

[4] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Do chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng về việc yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp trong trường hợp ông T, bà T1 không trả được nợ, nên ông T, bà T1 phải chịu toàn bộ chi phí là 19.419.648 đồng. Ngân hàng không phải chịu, Ngân hàng đã nộp và chi xong nên buộc ông T, bà T1 phải hoàn lại cho Ngân hàng số tiền 19.419.648 đồng.

[5] Về án phí: Ngân hàng không phải chịu án phí. Do ông T, bà T1 phải có nghĩa vụ trả nợ nên phải chịu án phí tương ứng với nghĩa vụ phải thực hiện là 36.000.000 đồng + 3% x (934.901.196 đồng – 800.000.000 đồng) = 40.047.035 đồng.

[6] Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án phù hợp với đánh giá, nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm c, khoản 1 Điều 217; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Áp dụng Điều 100; Điều 103; khoản 3 Điều 108 của Luật các tổ chức tín dụng; Điều 325, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S1 đối với yêu cầu phát mãi phần đất diện tích theo đo đạc thực tế là 1.288,3m² có 04 căn nhà của ông Sơn T2, bà Sơn Thị Tuyết N, ông Sơn Hoàng T7, ông Sơn Hoàng T4 và phần mồ mã trên đất; Trong đó có 1.050,8m² thuộc thửa đất số 48, tờ bản đồ số 10 (thửa số 498, tờ bản đồ số 06 cũ) và 237,5m² thuộc thửa đất số 45, tờ bản đồ số 10 (thửa số 10, tờ bản đồ số 05 cũ).
  2. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S1 đối với ông Sơn Hoàng T và bà Lê Thị Ngọc T1.
  3. Buộc ông Sơn Hoàng T và bà Lê Thị Ngọc T1 có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần S1 tổng số tiền tính đến hết ngày 11/11/2024 là 934.901.196 đồng (Chín trăm ba mươi bốn triệu chín trăm lẻ một nghìn một trăm chín mươi sáu đồng), cụ thể: nợ gốc: 747.000.000 đồng, nợ lãi: 187.901.196 đồng (Lãi trong hạn: 141.960.969 đồng; Lãi quá hạn: 45.940.500 đồng).

Kể từ ngày 12/11/2024 ông Sơn Hoàng T và bà Lê Thị Ngọc T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp, trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng

vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

  1. Trường hợp ông Sơn Hoàng T và bà Lê Thị Ngọc T1 không thanh toán nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền bán đấu giá tài sản thế chấp để thu hồi nợ, bao gồm: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất còn lại có diện tích theo đo đạc thực tế là 20.346,8m², trong đó 9469,5m² thuộc thửa 498, tờ bản đồ số 02 (thửa 13, tờ bản đồ số 05 cũ); 8231m² thuộc thửa 45, tờ bản đồ số 10 (thửa số 10, tờ bản đồ số 05 cũ); 2646,3m² số 48, tờ bản đồ số 10 (thửa số 498, tờ bản đồ số 06 cũ) tọa lạc tại Ấp A, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Sơn Hoàng T và bà Lê Thị Ngọc T1, theo giấy chứng nhận QSDĐ số phát hành O 0618246, số vào sổ 01915 QSDĐ/527/2000 do UBND huyện V (nay là Huyện H) cấp ngày 26/10/2000 để thu hồi nợ.
  2. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ông Sơn Hoàng T và bà Lê Thị Ngọc T1 phải chịu toàn bộ. Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 không phải chịu, Ngân hàng đã nộp và chi xong nên buộc ông T, bà T1 phải hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 số tiền 19.419.648 đồng.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông Sơn Hoàng T và bà Lê Thị Ngọc T1 phải chịu 40.047.035 đồng (Bốn mươi triệu không trăm bốn mươi bảy nghìn không trăm ba mươi lăm đồng).

Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 không phải chịu án phí. Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 đã nộp tạm ứng án phí số tiền 18.193.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0005210 ngày 12 tháng 01 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu, nay được hoàn lại toàn bộ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự.

  1. Án xử sơ thẩm công khai, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

-TAND tỉnh Bạc Liêu;

- VKSND huyện Hòa Bình;

-CCTHADS huyện Hòa Bình;

-Đương sự;

-Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Tâm

Hội đồng xét xử xét thấy mặc dù trong hợp đồng thế chấp chỉ có chữ ký của ông L và bà D1 không có chữ ký của thành viên trong hộ ông L là chị L1 và chị M1. Tuy nhiên, trước khi ông L và bà D1 ký kết hợp đồng thế chấp thì chị M1 và chị L1 đã cùng ký vào biên bản họp thành viên hộ gia đình ngày 10/11/2015, biên bản có xác

nhận của Ủy ban nhân dân xã V, huyện H, nội dung biên bản thể hiện chị L1 và chị M1 đồng ý ủy quyền cho ông L và bà D1 được toàn quyền thế chấp tài sản hộ gia đình cho Ngân hàng thương mại cổ phần K, trong phạm vi ủy quyền ông L và bà D1 được ký kết các hợp đồng, văn bản có liên quan đến việc vay vốn, thế chấp theo quy định pháp luật, trường hợp phải xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo việc thu hồi nợ các thành viên của hộ đồng ý để Ngân hàng được toàn quyền xử lý tài sản thế chấp theo thỏa thuận hợp đồng thế chấp...

Theo biên bản lấy lời khai chị M1 xác định không biết việc vay tiền của ông L và bà D1 đối với Ngân hàng, chị không có ký tên vào biên bản họp thành viên hộ gia đình ngày 10/11/2015 nên không đồng ý phát mãi tài sản thế chấp. Quá trình giải quyết vụ án cả chị M1, Ngân hàng và các đương sự khác trong vụ án đều cương quyết không ai yêu cầu giám định. Căn cứ vào biên bản họp có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã V đối với các chữ ký của chị L1 và chị M1 là đúng nên không có căn cứ chấp nhận trình bày của chị M1.

Quá trình giải quyết vụ án chị L1 đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng chị L1 cũng không có bất kỳ ý kiến phản hồi nào liên quan đến hợp đồng tín dung và hợp đồng thế chấp này, hơn nữa theo sự thống nhất của ông T14, ông L và bà D1 sau khi vay tiền ông L và bà D1 đưa toàn bộ số tiền vay được cho chị L1 và anh T14. Do đó, việc giao dịch vay tiền và thế chấp của ông L, bà D1 thì chị L1 đã biết, đến nay chị L1 cũng không có văn bản gì phản đối đối với yêu cầu của Ngân hàng.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2024/DS-ST ngày 11/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 55/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng yêu cầu ông T trả nợ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger