Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CƯ KUIN

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2024/HNGĐ-ST

Ngày 11-11-2024

V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ KUIN, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tạ Thị Ngọc Điệp
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Ông Hoàng Năng Long;
    2. Ông Nguyễn Hồng Khanh
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Loan, Thư ký Toà án nhân dân huyện Cư Kuin.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Kuin tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cư Kuin xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 164/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm 1986; Địa chỉ: Buôn K, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.
  • * Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc B, sinh năm 1980; Địa chỉ: Buôn K, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa nguyên đơn Lê Thị H trình bày:

Bà Lê Thị H (nguyên đơn) và ông Nguyễn Quốc B (bị đơn) kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã E ngày 28/5/2009. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau từ năm 2009 đến năm 2021 ở Bình Phước, từ năm 2021 đến nay ông B về Đắk Lắk sinh sống, lâu lâu mới về ở cùng ba mẹ con khoảng 1 – 2 tháng rồi lại đi. Tháng 8/2024 bà H cùng 02 con chung đã chuyển về buôn K, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk để cả gia đình cùng đoàn tụ, chung sống với nhau. Tuy nhiên vợ chồng chung sống với nhau chỉ được một thời gian thì bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính cách, quan điểm vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên không giải quyết được các vấn đề phát sinh, cuộc sống không hạnh phúc, không tìm được tiếng nói chung. Các bên đã nhiều lần thỏa thuận với nhau và hòa giải nhưng không thành. Nay nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, không có tình yêu thương, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyên đơn yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn với bị đơn.

Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Lê Gia H1, sinh ngày 30/01/2010 và cháu Nguyễn Lê Gia H2, sinh ngày 24/5/2017. Từ nhỏ đến lớn 02 con chung chủ yếu là sinh sống và ở cùng bà H tại Bình Phước, do đó bà H có nguyện vọng muốn được tiếp tục nuôi cả hai con chung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo các lời khai quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Quốc B trình bày:

Nguyên đơn và bị đơn tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn như nguyên đơn trình bày là đúng. Ông B xác định trong quá trình chung sống vợ chồng ông không có mâu thuẫn gì lớn, chỉ có mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống, vợ chồng cũng có lúc cãi nhau nhỏ nhưng sau đó lại làm lành và tiếp tục ở với nhau. Nay bà H có nguyện vọng được ly hôn với ông B thì ông B không đồng ý ly hôn vì ông B xác định ông còn tình cảm với bà H, muốn được tiếp tục cùng chung sống với nhau để nuôi dạy con cái.

Về con chung: Ông B đồng ý với lời trình bày của bà H về quá trình chung sống, nuôi con chung và cũng có nguyện vọng muốn được nuôi cả hai con chung. Tuy nhiên, nếu bà H có nguyện vọng muốn được nuôi cả hai con chung thì ông B đồng ý, nhưng ông B vẫn muốn được đóng góp tiền học cho con chung và khi con ốm đau bệnh tật thì ông B sẽ vào thăm và chịu tất cả các chi phí ốm đau của con. Do đó về cấp dưỡng nuôi con chung ông B không yêu cầu Tòa án giải quyết mà vợ chồng sẽ tự thỏa thuận với nhau.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên toà: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc ly hôn với bị đơn. Về con chung giao 02 cháu Nguyễn Lê Gia H1, sinh ngày 30/01/2010 và cháu Nguyễn Lê Gia H2, sinh ngày 24/5/2017 cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi đủ tuổi thành niên. Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản và nợ chung đương sự không yêu cầu nên không giải quyết.

2

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về tố tụng và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và việc nuôi con chung với bị đơn nên đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Do bị đơn ông Nguyễn Quốc B có nơi cư trú tại Buôn K, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự để thụ lý, giải quyết là đúng với quy định của pháp luật.
  2. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị H và ông Nguyễn Quốc B xác lập quan hệ hôn nhân với nhau trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã E vào ngày 28/5/2009 nên quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn là hợp pháp và được pháp luật công nhận.
  3. Về nguyên nhân mâu thuẫn: Theo bà H xác định trong thời gian chung sống với nhau, bà H và ông B phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, bà H xác định không còn tình cảm với ông B, không thể tiếp tục chung sống với ông B được nữa, mặc dù Tòa án đã tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng bà H, ông B không khắc phục được mâu thuẫn gia đình, bà H vẫn cương quyết yêu cầu được ly hôn với ông B. Xét thấy mâu thuẫn giữa bà H và ông B đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H, cho bà H được ly hôn với ông B là phù hợp.

  4. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Quá trình chung sống nguyên đơn và bị đơn có 02 con chung là cháu Nguyễn Lê Gia H1, sinh ngày 30/01/2010 và cháu Nguyễn Lê Gia H2, sinh ngày 24/5/2017. Từ nhỏ đến lớn 02 con chung chủ yếu là sinh sống và ở cùng bà H tại Bình Phước, được bà H chăm sóc, nuôi dạy ổn định.
  5. Xét nguyện vọng của nguyên đơn và bị đơn đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Xét thấy việc nuôi con chung vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của cha mẹ, việc giao con chung cho ai nuôi dưỡng cũng phải đảm bảo cho con chung được nuôi dạy, phát triển trong điều kiện tốt nhất. Tại biên bản hòa giải ngày 14/10/2024, nguyên đơn và bị đơn thỏa thuận giao 02 con chung cho nguyên đơn bà Lê Thị H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng; xét thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, nên cần công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, giao cháu H1 và cháu H2 cho bà H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi đủ tuổi thành niên. Về cấp dưỡng nuôi con chung các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

  6. Về tài sản và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không giải quyết.
  7. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.

3

[6] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị đơn không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 144, 147, 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56, các Điều 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 khoản 2 Điều 47 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị H.

  1. 1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Quốc B.
  2. 2. Về con chung: Giao 02 cháu Nguyễn Lê Gia H1, sinh ngày 30/01/2010 và cháu Nguyễn Lê Gia H2, sinh ngày 24/5/2017 cho bà Lê Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi đủ tuổi thành niên.
  3. 3. Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu nên không giải quyết.
  4. Vì lợi ích của con và theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  5. 4. Về tài sản và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không giải quyết.
  6. 5. Về án phí: Bà Lê Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2023/0006714 ngày 27/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - P. Kiểm tra - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND huyện C;
  • - Chi cục THADS huyện C;
  • - UBND xã E;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tạ Thị Ngọc Điệp

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2024/HNGĐ-ST ngày 11/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ KUIN, TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 55/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ KUIN, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa bà Lê Thi H - ông Nguyễn Quốc B
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger