Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG PẮC
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55 /2024/HS-ST

Ngày: 08 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thành Tâm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hải, bà Mó Măng.

- Thư ký phiên toà: Bà Nông Thị Lường – Là Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Thu Hương – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Krông Pắc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 56/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: Trần Quốc D (Tên gọi khác: Không) - Sinh năm 1980, tại tỉnh Quảng Ngãi.

Nơi cư trú: Thôn P, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Trần Văn Đ (đã chết), con bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1957. Bị cáo có vợ là Ngô Thị T, sinh năm 1985 và có 01 con, sinh năm 2008.

Tiền án, Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 06/9/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk tuyên phạt 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) về tội “Đánh bạc”, đã chấp hành xong hình phạt, chưa được xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/7/2024 đến ngày 25/7/2024 thay thế bằng biện pháp cho bảo lĩnh đến nay. (Có mặt)

2/ Họ và tên: Ngô Thị T (Tên gọi khác: Không) - Sinh năm 1985, tại tỉnh Quảng Nam.

Nơi cư trú: Thôn P, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

Nghề nghiệp: Buôn bán. Trình độ học vấn: 07/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Ngô S, sinh năm 1948, con bà Lê Thị H1, sinh năm 1954. Bị cáo có chồng là Trần Quốc D, sinh năm 1980 và có 01 con, sinh năm 2008.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/7/2024 đến nay. (Có mặt)

3/ Họ và tên: Phan B (Tên gọi khác: Phan T1) - Sinh năm 1974, tại tỉnh Quảng Nam.

Nơi cư trú: Thôn P, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

Nghề nghiệp: Buôn bán. Trình độ học vấn: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Phan N (đã chết), con bà Nguyễn Thị H2 (đã chết). Bị cáo có vợ là Trần Thị H3, sinh năm 1968 và có 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2012.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/7/2024 đến nay. (Có mặt)

4/ Họ và tên: Nguyễn Văn T2 (Tên gọi khác: Không) - Sinh năm 1970, tại tỉnh Hải Dương.

Nơi cư trú: Thôn P, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

Nghề nghiệp: Thợ sửa đồng hồ. Trình độ học vấn: 03/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn S1 (đã chết), con bà Vũ Thị N1 (đã chết). Bị cáo có vợ là Trần Thị V, sinh năm 1971 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1988, con nhỏ nhất sinh năm 1996.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/7/2024 đến nay. (Có mặt)

5. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • - Ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1966. Địa chỉ: Thôn P, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. (Có mặt)
  • - Ông Đỗ Văn Đ2, sinh năm 1968. Địa chỉ: Thôn P, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. (Có mặt)
  • - Ông Nguyễn Văn N2, sinh năm 1989. Địa chỉ: Thôn P, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
  • - Ông Đặng Ngọc T3, sinh năm 1968. Địa chỉ: Thôn P, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. (Có mặt)
  • - Ông Phan M, sinh năm 1964. Địa chỉ: Thôn P, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.(Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Ông Phan T4, sinh năm 1971. Địa chỉ: Thôn P, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.(Có đơn xin xét xử vắng mặt)

6. Vật chứng cần đưa ra xem xét tại phiên tòa: Không.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 06/7/2024, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc Trần Quốc D, sinh năm 1980, cư trú tại thôn P, xã E, huyện K nhận ghi số lô, số đề. Ngày 07/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K tiến hành làm việc với Trần Quốc D và thu giữ 01 tờ giấy kẻ ô ly kích thước 30cm x 20cm (gọi là tịch đề) D ghi cho người chơi ngày 06/7/2024, trên mặt giấy thể hiện các con số lô, số đề với Phan B và Ngô Thị T. Ngoài ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K còn thu giữ của Trần Quốc D 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy Z Flip5 màu đen và xanh ngọc, số Imei 350290892039200 đã qua sử dụng. Qua lời khai của D, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành khám xét chỗ ở của Nguyễn Văn T2 thu giữ 01 tờ giấy kẻ ô ly kích thước 30cm x 20cm, trên mặt giấy thể hiện các con số lô, số đề đài Quảng Ngãi mà T2 nhận từ D chuyển đến trong ngày 06/7/2024.

Tại cơ quan điều tra Trần Quốc D, Ngô Thị T, Phan B và Nguyễn Văn T2 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình cụ thể như sau:

1. Trần Quốc D khai: D làm nghề buôn bán ga nấu bếp. Tuy nhiên, do công việc này thu nhập thấp hơn mức sinh hoạt, một phần con gái ruột Trần Ngô Tâm Đ3, sinh năm 2007 hiện đang bị bệnh bại não nằm liệt tại chỗ nên D đứng ra ghi số lô, số đề cho người chơi để thu lợi nhằm trang trải cuộc sống. Trước ngày 06/7/2024, D nói với những người quen và Ngô Thị T (vợ D) là mình sẽ nhận ghi số lô, số đề. D nói T ghi số lô, số đề khi khách có nhu cầu, sau đó chuyển lại cho D (vì T bán nước giải khát ở khu vực Chợ E thuộc Thôn D, xã E, huyện K nên có rất nhiều khách tới uống nước) D cho T 200.000 đồng/ngày, T đồng ý. Đồng thời D còn nhận số lô số đề của Phan B (T1). Cũng trong thời gian này, D gặp Nguyễn Văn T2 (là người khuyết tật) D nói với T2 nếu D nhận số lô, số đề nhiều thì chuyển bớt lại cho T2 để T2 trực tiếp thắng thua với người chơi, T2 đồng ý. Sau khi tập hợp các số lô, số đề trong ngày, D ghi các con số vào 01 tờ giấy (tịch đề) để chuyển trực tiếp cho T2 một phần (ngoài ra D còn tự nghĩ ra các con số và chuyển cho T2), phần còn lại D giữ lại để trực tiếp thắng thua với người chơi. Dựa vào kết quả xổ số kiến thiết các tỉnh Quảng Ngãi, Đắk Nông, Đà Nẵng và Nam Định, D đã nhận số lô, số đề cụ thể:

Ngô Thị T đài miền T số tiền 16.152.000 đồng, trong đó: Tỉnh Quảng Ngãi 12.792.300 đồng (số tiền ghi thực tế 5.792.300 trúng các con số 85 x 40, 73 x 10, 43 x 50 số tiền 7.000.000 đồng); tỉnh Đắk Nông 2.380.000 đồng (số tiền ghi thực tế 980.000 đồng, trúng con số 03 x 20, số tiền 1.400.000 đồng); đài Đ4 là 980.000 đồng.

Phan Bé, số tiền 7.976.000 đồng, tỉnh Quảng Ngãi (số tiền ghi thực tế là 4.826.000 đồng, trúng 3.150.000 đồng). tỉnh Nam Định số tiền 5.467.000 đồng (số tiền ghi thực tế 2.367.000 đồng, trúng 3.100.000 đồng).

Sau đó D ghi ra tờ giấy và chuyển lại cho T2 số lô, số đề tỉnh Quảng Ngãi, số tiền 1.503.000 đồng và tự ghi thêm số tiền 256.000 đồng, tỉnh Quảng Ngãi. Số tiền D ghi số lô số đề với T2 là 1.646.000 đồng.

Tổng số tiền D ghi số lô số đề trong ngày 06/7/2024 là 31.241.000 đồng, trong đó: Đài miền T5 gồm (tỉnh Quảng Ngãi, tỉnh Đăk Nông và Đà Nẵng) là 25.774.000 đồng. Đài miền B (tỉnh Nam Định) là 5.467.000 đồng.

2. Ngô Thị T khai: T và Trần Quốc D là vợ chồng, D nói T nhận số lô, số đề chuyển cho D (vì T bán nước giải khát ở khu vực Chợ E thuộc Thôn D, xã E, huyện K nên có rất nhiều khách tới uống nước), D trả T 200.000 đồng/ngày, T đồng ý. Thắm ghi số lô, số đề cho khách đối với đánh bao lô hai chân 14.000 đồng/01 điểm, bao lô ba chân 13.000 đồng/01 điểm, đánh đầu chót 800 đồng/1 điểm. Khi đối chiếu kết quả nếu khách trúng số đã ghi đối với bao lô 2 chân và đầu chót thì 70.000 đồng/1 điểm, ba chân thì 500.000 đồng/1 điểm. Ngày 06/7/2024, T nhận ghi số lô, số đề cụ thể:

Nguyễn Văn N2, sinh năm 1989, trú tại thôn P, xã E, huyện K, tỉnh Đăk Lăk con số 39 x 40, tỉnh Quảng Ngãi, số tiền 560.000 đồng.

Đối tượng V1 (chưa xác định được nhân thân lai lịch) tỉnh Quảng Ngãi số tiền 1.540.000 đồng, tỉnh Đắk Nông số tiền 980.000 đồng, thành phố Đà Nẵng số tiền 980.000 đồng. Khách vãng lai (chưa xác định được nhân thân lai lịch), tỉnh Quảng Ngãi, số tiền 4.252.300 đồng.

Sau khi nhận số lô, số đề, T tổng hợp lại vào tờ giấy rồi đưa cho Trần Quốc D.

Tổng số tiền T ghi số lô, số đề đài miền T là 16.152.000 đồng, trong đó: Tỉnh Quảng Ngãi số tiền 12.792.300 đồng (số tiền ghi thực tế 5.792.300 trúng các con số 85 x 40, 73 x 10, 43 x 50 số tiền 7.000.000 đồng); tỉnh Đắk Nông 2.380.000 đồng (số tiền ghi thực tế 980.000 đồng trúng con số 03 x 20, số tiền 1.400.000 đồng); đài Đ4 là 980.000 đồng.

3. Phan Bé (P) khai: Phan B và Trần Quốc D quen biết nhau do ở gần nhà. Bé biết việc D nhận ghi số lô, số đề nên đến gặp và nói với D việc mình nhận ghi số lô số đề sau đó chuyển lại cho D, D đồng ý. Đối với đài miền T5 đánh bao lô hai chân và ba chân, Bé ghi cho khách 14.000 đồng/1 điểm, chuyển lại cho D 13.000 đồng/1 điểm; đánh đầu đuôi, ba chân giải đặc biệt Bé ghi cho khách 1.000 đồng/1 điểm, chuyển cho D là 700 đồng/1 điểm. Đối với đài miền B bao lô hai chân và ba chân Bé ghi cho khách 22.000 đồng/1 điểm, chuyển lại cho D 21.000 đồng; đánh đầu chót 5.000 đồng/1 điểm chuyển lại cho D 4.000 đồng/1 điểm. Khi đối chiếu kết quả nếu khách trúng số đã ghi đối với bao lô 2 chân và đầu chót thì 70.000 đồng/1 điểm, ba chân thì 500.000 đồng/1 điểm.

Vào ngày 06/7/2024, B nhận ghi số lô, số đề cụ thể:

Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1966, trú tại thôn P, xã E, huyện K con số 73 x 2, tỉnh Quảng Ngãi số tiền 168.000 đồng (số tiền ghi thực tế 28.000 đồng, trúng 140.000 đồng).

Đỗ Văn Đ2, sinh năm 1963, trú tại thôn P, xã E, huyện K ghi con số 91 x 10, tỉnh Quảng Ngãi, số tiền 140.000 đồng.

Đặng Ngọc T3, sinh năm 1968, trú tại thôn P, xã E, huyện K ghi con số 68 x 1, tỉnh Quảng Ngãi, số tiền 14.000 đồng. Tỉnh Nam Định, ghi các con số 52x1, 77x2 và 777x1 số tiền 728.000 đồng (số tiền ghi thực tế 88.000 đồng, trúng 640.000 đồng).

Khách vãng lai (chưa xác định được nhân thân lai lịch), tỉnh Quảng Ngãi, số tiền 8.118.000 đồng (số tiền ghi thực tế 5.108.000 đồng, trúng 3.010.000 đồng), tỉnh Nam Định số tiền 4.986.000 đồng (số tiền ghi thực tế 2.526.000 đồng, trúng 2.460.000 đồng).

Tổng số tiền B nhận số lô, số đề là 14.554.000 đồng, trong đó: Đài miền T5 là 8.440.000 (số tiền ghi thực tế 5.290.000 đồng, trúng 3.150.000 đồng; đài miền B1 là 5.714.000 đồng (số tiền ghi thực tế là 2.614.000 đồng, số tiền trúng là 3.100.000 đồng).

Sau khi ghi số lô, số đề cho khách, Bé lưu lại trong 01 tờ giấy kẻ ô ly (gọi là tịch đề) sau đó chuyển cho Trần Quốc D, tỉnh Quảng Ngãi là 5.290.000 đồng chuyển lại cho D là 4.826.000 đồng, (hưởng chênh lệch 464.000 đồng). Tỉnh Nam Định là 2.614.000 đồng, chuyển lại cho D là 2.367.000 đồng, (hưởng chênh lệch 247.000 đồng).

4. Nguyễn Văn T2 khai: T2 là người khuyết tật, làm nghề sửa đồng hồ ở khu vực chợ C thuộc xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Vì công việc thu nhập không ổn định, không đủ để trang trải sinh hoạt nên T2 nảy sinh việc ghi số lô, số đề để thu lợi. Trước ngày 06/7/2024, Trần Quốc D gặp và nói với T2, nếu D ghi số lô, số đề nhiều thì chuyển bớt lại cho T2, T2 đồng ý. Đối với đánh bao lô hai chân, ba chân, T2 nhận của D 12.000đ/1 điểm, đánh đầu chót T2 nhận 700 đồng/01 điểm. Khi đối chiếu kết quả nếu khách trúng số đã ghi đối với bao lô 2 chân và đầu chót thì 70.000 đồng/1 điểm, ba chân thì 450.000 đồng/1 điểm, đầu chót ba chân thì 300.000 đồng/1 điểm. Ngày 06/7/2024, T2 nhận số lô, số đề cụ thể:

Nhận của Trần Quốc D số tiền 1.646.000 đồng, tỉnh Quảng Ngãi.

Nhận của khách vãng lai (chưa xác định được nhân thân lai lịch), tỉnh Quảng Ngãi số tiền 20.693.400 đồng (số tiền ghi thực tế 11.943.400 đồng, trúng các con số 90x5; 83x5; 73x5; 32x10; 76x10; 73x30; 52x10; 28đc20; 28đc20; 28đc10 số tiền 8.750.000 đồng).

Tổng số tiền T2 ghi số lô, số đề là 22.339.400 đồng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 44/KL-HĐĐGTS ngày 29/8/2024 của Hội đồng định giá huyện K kết luận:

01 căn phòng ngủ; móng xây đá hộc, tường chung xây gạch, nên lát gạch ceramic 500x500, cửa đi, cửa sổ panô nhôm kính, trần đóng tôn lạnh. Diện tích 3,95 x 2,95 = 11,65m² xây dựng năm 2021 có giá trị 26.493.622 đồng.

Diện tích đất dùng để xây dựng căn phòng ngủ nhà ông Trần Quốc D thôn P, xã E, huyện K, diện tích 3,95x2,95 = 11,65m², có giá trị 12.459.023 đồng.

Tổng giá trị là 38.952.645 đồng.

Hình thức ghi số lô, số đề:

Đánh bao lô hai số: Trong kết quả xổ số miền T, miền N gồm có 8 giải thưởng và có 18 dãy các con số thường gọi là “18 lô”, còn trong kết quả xổ số miền B gồm có 8 giải thưởng và 27 dãy các con số thường gọi là “27 lô”. Nếu con số người chơi mua (con số có hai số) có trong các “lô” của kết quả xổ số thì người chơi thắng. Đối với bao lô hai số của kết quả xổ số miền T, miền N thì 1điểm = 14.000 đồng nếu thắng thì 1 điểm = 70.000 đồng. Đối với bao lô hai số của kết quả xổ số miền B thì 1điểm = 21.000 đồng, nếu thắng thì 1điểm = 70.000 đồng.

Đánh bao lô ba số: Nếu số người chơi mua (con số có ba số) có trong các “lô” của kết quả xổ số thì người chơi thắng. Đối với bao lô ba số của kết quả xổ số miền T, miền N thì 1 điểm = 13.000 đồng, nếu thắng thì 1điểm = 300.000 đồng. Đối với đánh bao lô ba số của kết quả xổ số miền B thì 1điểm = 18.000 đồng nếu thắng thì 1 điểm = 300.000 đồng.

Đánh đầu chót: Người chơi lựa chọn con số bất kỳ rồi đối chiếu với giải B2 (gọi là đầu) và giải Đặc biệt (gọi là chót) của kết quả xổ số nếu có con số người chơi chọn thì người chơi thắng. Đối với đánh đầu chót của xổ số miền T 1điểm = 700 đồng, nếu thắng thì 1điểm = 70.000 đồng. Đối với đánh đầu chót của kết quả xổ số miền B thì 1điểm = 5.000 đồng, nếu thắng thì 1điểm = 70.000 đồng.

* Vật chứng thu giữ:

  • - 01 tờ giấy kẻ ô ly (tịch đề) kích thước 30cm x 20cm thu giữ trên người Trần Quốc D; 01 tờ giấy trắng (tịch đề) kích thước 20cm x15cm, 01 tờ giấy trắng (phơi đề) kích thước 5cm x 5cm thu giữ trên người Ngô Thị T; 01 tờ giấy kẻ ô ly (tịch đề) kích thước 30cm x15cm của Nguyễn Văn T2.
  • - 01 (một) chiếc điện thoại hiệu S2 Z Flip5 màu đen và xanh ngọc, số Imei 350290892039200 của Trần Quốc D đã qua sử dụng.
  • - Quá trình điều tra Nguyễn Văn N2 đã giao nộp số tiền 560.000 đồng là tiền ghi số lô số đề với Ngô Thị T.

Tại Cáo trạng số: 55/CT-VKS-HS ngày 15 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc truy tố các bị cáo Trần Quốc D, Ngô Thị T, Phan B, Nguyễn Văn T2 về tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Trần Quốc D, Ngô Thị T, Phan B, Nguyễn Văn T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả đối với hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố các bị cáo Trần Quốc D, Ngô Thị T, Phan B, Nguyễn Văn T2 phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Quốc D từ 12 tháng đến 18 tháng tù.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 36 của Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Phan B từ 24 đến 27 tháng cải tạo không giam giữ. Do bị cáo Phan B có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên đề nghị miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Phan Bé .
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Ngô Thị T từ 07 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 14 đến 18 tháng.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T2 từ 07 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 14 đến 18 tháng.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Lưu theo hồ sơ vụ án 01 tờ giấy kẻ ô ly (tịch đề) kích thước 30cm x 20cm thu giữ trên người Trần Quốc D; 01 tờ giấy trắng (tịch đề) kích thước 20cm x15cm, 01 tờ giấy trắng (phơi đề) kích thước 5cm x 5cm thu giữ trên người Ngô Thị T; 01 tờ giấy kẻ ô ly (tịch đề) kích thước 30cm x15cm của Nguyễn Văn T2.
  • - Chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại 01 (một) chiếc điện thoại hiệu S2 Z Flip5 màu đen và xanh ngọc, số Imei 350290892039200 của Trần Quôc D1 đã qua sử dụng không liên quan đến vụ án.
  • - Truy thu sung vào Ngân sách Nhà nước của bị cáo Trần Quốc D 16.296.000 đồng (trong đó 14.650.000 đồng là tiền trúng đề của các bị cáo Ngô Thị T, Phan B và 1.646.000 đồng là tiền bị cáo Trần Quốc D ghi số lô, số đề với bị cáo Nguyễn Văn T2).
  • - Truy thu sung vào Ngân sách Nhà nước của bị cáo Ngô Thị T số tiền 7.752.300 đồng ; bị cáo Phan B số tiền 7.904.000 đồng; bị cáo Nguyễn Văn T2 số tiền 20.693.400 đồng là tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc.
  • - Truy thu sung vào Ngân sách Nhà nước 38.952.645 đồng là giá trị 01 căn phòng ngủ nơi bị cáo Trần Quốc D và bị cáo Ngô Thị T sử dụng để phạm tội.
  • - Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước của Nguyễn Văn N2 số tiền 560.000 đồng là tiền ghi số lô số đề với Ngô Thị T.

Đối với Nguyễn Văn Đ1, Đỗ Văn Đ2, Đặng Ngọc T3 và Nguyễn Văn N2 có hành vi đánh bạc. Quá trình điều tra xác định số tiền đánh bạc của các đối tượng dưới 5.000.000 đồng và chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị kết án về hành vi đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc nên không xử lý hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc đối với các đối tượng trên.

Đối với các đối Viên và khách vãng lai (chưa xác định được nhân thân lai lịch). Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K chưa làm rõ được hành vi phạm tội. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K tiếp tục xác minh làm rõ, khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không tranh luận gì thêm mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng một mức án nhẹ nhất vì các bị cáo đã ăn năn hối hối hận về hành vi phạm tội của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của hành vi, quyết định: Quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Đắk Lắk, Điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo và đương sự trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định pháp luật.

[2] Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng và những chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 06/7/2024, Trần Quốc D, Ngô Thị T, Phan B và Nguyễn Văn T2 đã cùng nhau đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền dưới hình thức ghi số lô số đề nhằm thu lợi bất chính. Cụ thể: Bị cáo Trần Quốc D đánh bạc với Ngô Thị T, Phan B, Nguyễn Văn T2 đài miền T (tỉnh Quảng Ngãi, tỉnh Đắk Nông và Đà Nẵng) số tiền 25.774.000 đồng, đài miền B số tiền 5.290.000 đồng; Ngô Thị T đánh bạc đài miền T (tỉnh Quảng Ngãi, tỉnh Đắk Nông và Đà Nẵng) tổng số tiền 16.152.000 đồng; Phan B đánh bạc với tổng số tiền đài miền T (tỉnh Quảng Ngãi) 8.440.000 đồng, đài miền B (tỉnh Nam Định) 5.714.000 đồng; Nguyễn Văn T2 đánh bạc tổng số tiền 22.339.400 đồng, tỉnh Quảng Ngãi.

Vì vậy, hành vi của các bị cáo Trần Quốc D, Ngô Thị T, Phan B và Nguyễn Văn T2 đã phạm vào tội “Đánh bạc”; tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật

Điều 321 BLHS quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

[3] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến trật tự công cộng mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương, ngoài việc xâm phạm đến trật tự xã hội còn gây ảnh hưởng xấu đến nếp

sống văn minh ở địa phương và đồng thời cũng là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Các bị cáo phải biết được rằng, đánh bạc với bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, là tệ nạn xã hội nên bị Nhà nước nghiêm cấm. Vì vậy, việc xử phạt nghiêm minh đối với các bị cáo có tác dụng cải tạo giáo dục riêng đồng thời răn đe phòng ngừa tội phạm chung trong toàn xã hội.

Các bị cáo Trần Quốc D, Ngô Thị T, Phan B và Nguyễn Văn T2 tham gia đánh bạc và số tiền dùng vào việc đánh bạc có mức độ khác nhau, cụ thể: Bị cáo Trần Quốc D đánh bạc với Ngô Thị T, Phan B, Nguyễn Văn T2 đài miền T số tiền 25.774.000 đồng, đài miền B số tiền 5.290.000 đồng; Ngô Thị T đánh bạc đài miền T tổng số tiền 16.152.000 đồng; Phan B đánh bạc với tổng số tiền tỉnh Quảng Ngãi 8.440.000 đồng, tỉnh Nam Định 5.714.000 đồng; Nguyễn Văn T2 đánh bạc tổng số tiền 22.339.400 đồng, tỉnh Quảng Ngãi. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần cân nhắc đến tính chất và mức độ tham gia, hậu quả, nhân thân cũng như số tiền mà các bị cáo đã sử dụng vào mục đích đánh bạc để áp dụng mức hình phạt phù hợp đối với từng bị cáo.

[4] Xét tính chất, mức độ, vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng: Trong vụ án, có 04 bị cáo tham gia nhưng vai trò, mức độ, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo khác nhau nên cần phân tích, đánh giá riêng để áp dụng mức hình phạt phù hợp cho từng bị cáo, cụ thể:

[4.1] Đối với bị cáo Trần Quốc D có nhân thân xấu, vào ngày 01/01/2024 bị cáo bị khởi tố về hành vi đánh bạc (trong thời gian tại ngoại ngày 16/7/2024, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội đánh bạc). Ngày 06/9/2024, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) về tội “Đánh bạc” (hành vi xảy ra ngày 01/01/2024) đã chấp hành xong hình phạt, chưa được xóa án tích. Ngoài ra bị cáo còn nói vợ bị cáo nhận số lô, số đề chuyển lại cho bị cáo. Bị cáo đánh bạc với số tiền lớn, đài miền T 25.774.000 đồng, đài miền B 5.467.000 đồng do đó bị cáo bị áp dụng tình tiết định khung tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là lao động chính trong gia đình, bị cáo có ông nội có công với cách mạng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó mức hình phạt cần áp dụng đối với bị cáo Trần Quốc D là cao nhất.

[4.2] Đối với bị cáo Phan B là người tham gia đánh bạc 02 lần với số tiền đài miền T5 là 7.976.000 đồng, đài miền B 5.467.900 đồng. Bị cáo có nhân thân tốt chưa vi phạm lần nào, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn và là lao động chính trong gia đình, được chính quyền địa phương xác nhận nên bị cáo được hưởng tình tiết quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội 02 lần (02 đài) nên bị cáo bị áp dụng tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Do đó mức hình phạt đối với bị cáo Phan B thấp hơn bị cáo D nhưng cao hơn các bị cáo còn lại.

[4.3] Đối với bị cáo Nguyễn Văn T2 và bị cáo Ngô Thị T. Bị cáo T2 đánh bạc với số tiền 22.339.400 đồng. Bị cáo T đánh bạc với tổng số tiền 16.152.000 đồng. Các bị cáo có nhân thân tốt chưa vi phạm lần nào, đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đều phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo T2 là người khuyết tật bị cụt hai chân, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình và được chính quyền địa phương xác nhận còn bị cáo T đang nuôi con Trần Ngô Tâm Đ3 sinh 2008, hiện đang bị bệnh bại liệt não nằm một chỗ nên các bị cáo được hưởng tình tiết quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên cần xem xét mức hình phạt đối với các bị cáo.

Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử, xét thấy cần phải cách ly bị cáo Trần Quốc D ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, có như vậy mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.

Đối với các bị cáo Ngô Thị T, Phan B và Nguyễn Văn T2 có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo Ngô Thị T và Nguyễn Văn T2 được hưởng án treo, bị cáo Phan B được cải tạo không giam giữ như ý kiến đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp và có cơ sở để chấp nhận nhằm tạo điều kiện để các bị cáo tự cải tạo ngoài xã hội và trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[4.4] Xét thấy bị cáo Phan B có hoàn cảnh khó khăn nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo. Bị cáo Trần Quốc D và Ngô Thị T đang nuôi con bị bệnh bại liệt não và bị cáo Nguyễn Văn T2 là người khuyết tật. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[5] Đối với Nguyễn Văn Đ1, Đỗ Văn Đ2, Đặng Ngọc T3 và Nguyễn Văn N2 có hành vi đánh bạc. Tuy nhiên, số tiền sử dụng đánh bạc chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự. Mặt khác, Nguyễn Văn Đ1, Đỗ Văn Đ2, Đặng Ngọc T3 và Nguyễn Văn N2 chưa có tiền án, tiền sự về tội đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc và gá bạc. Vì vậy, Công an huyện K ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc đối với các đối tượng trên là phù hợp và cần chấp nhận.

Đối với đối tượng tên V1 và khách vãng lai (chưa xác định được nhân thân lai lịch), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K chưa làm rõ được hành vi phạm tội. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K tiếp tục xác minh làm rõ, khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp và cần chấp nhận.

[6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Lưu theo hồ sơ vụ án 01 tờ giấy kẻ ô ly (tịch đề) kích thước 30cm x 20cm thu giữ trên người Trần Quốc D; 01 tờ giấy trắng (tịch đề) kích thước 20cm x15cm, 01 tờ giấy trắng (phơi đề) kích thước 5cm x 5cm thu giữ trên người Ngô Thị T; 01 tờ giấy kẻ ô ly (tịch đề) kích thước 30cm x15cm của Nguyễn Văn T2 mà các đối tượng dùng vào mục đích đánh bạc
  • - Chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại 01 (một) chiếc điện thoại hiệu S2 Z Flip5 màu đen và xanh ngọc, số Imei 350290892039200 của Trần Quốc D đã qua sử dụng không liên quan đến vụ án.
  • - Truy thu sung vào Ngân sách Nhà nước của bị cáo Trần Quốc D 16.296.000 đồng (Trong đó 14.650.000 đồng là tiền trúng đề của các bị cáo Ngô Thị T, Phan B và 1.646.000 đồng là tiền bị cáo Trần Quốc D ghi số lô, số đề với bị cáo Nguyễn Văn T2).
  • - Truy thu sung vào Ngân sách Nhà nước của bị cáo Ngô Thị T số tiền 7.752.300 đồng; bị cáo Phan B số tiền 7.904.000 đồng; bị cáo Nguyễn Văn T2 số tiền 20.693.400 đồng là tiền các bị cáo ghi số lô số đề với người chơi.
  • - Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước của Nguyễn Văn N2 số tiền 560.000 đồng là tiền ghi số lô số đề với Ngô Thị T.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cánh sát điều tra Công an huyện K và Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Pắc).

  • - Truy thu sung vào Ngân sách Nhà nước (01 căn phòng ngủ; móng xây đá hộc, tường chung xây gạch, nên lát gạch ceramic 500x500, cửa đi, cửa sổ panô nhôm kính, trần đóng tôn lạnh. Diện tích 3,95 x 2,95 = 11,65m² xây dựng năm 2021. Diện tích đất dùng để xây dựng căn phòng ngủ nhà ông Trần Quốc D thôn P, xã E, huyện K, diện tích 3,95x2,95 = 11,65m²). Đây là tài sản chung của Trần Quốc D, Ngô Thị T được sử dụng để phạm tội. Do đó, cần tịch thu của Trần Quốc D, Ngô Thị T, giá trị quy ra tiền là 38.952.645 đồng để truy thu sung vào ngân sách Nhà nước.
  • - Đối với địa điểm bị cáo Phan B dùng để đánh bạc là căn nhà xây cấp 4, nằm trong thửa đất số 121, tờ bản đồ số 11, diện tích 1380m² tại thôn P, xã E, huyện K là tài sản thuộc sở hữu của ông Phan Năm .1 Tuy nhiên, ông Phan N đã chết vào năm 2022, nên việc quản lý mảnh đất này thuộc ông Phan M, P, Phan B. Việc ông Phan B sử dụng mảnh đất trên vào mục đích đánh bạc thì ông Phan M, Phan T4 không biết nên việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K không xem xét xử lý đối với ông M, ông T4 và với thửa đất trên là phù hợp và cần chấp nhận.

[7] Về án phí: Căn cứ Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý vàsử dụng án phí và lệ phí. Buộc Các bị cáo Trần Quốc D, Ngô Thị T, Phan B và Nguyễn Văn T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố: Các bị cáo Trần Quốc D, Ngô Thị T, Phan B và Nguyễn Văn T2 phạm tội “Đánh bạc”.

[2] Về điều luật và mức hình phạt:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Quốc D 12 (mười hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/7/2024 đến ngày 25/7/2024.

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 36 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phan B 24 (hai mươi bốn) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện K nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Phan B cho Ủy ban nhân dân xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian bị cáo chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Luật thi hành án hình sự.

Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Phan Bé .

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Ngô Thị T 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (08/11/2024).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T2 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (08/11/2024).

Giao các bị cáo Ngô Thị T, Nguyễn Văn T2 cho Ủy ban nhân dân xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk là nơi các bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự: Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh đối các bị cáo Ngô Thị T, Phan B và Nguyễn Văn T2 kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

[3] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  • - Lưu theo hồ sơ vụ án 01 tờ giấy kẻ ô ly (tịch đề) kích thước 30cm x 20cm thu giữ trên người Trần Quốc D; 01 tờ giấy trắng (tịch đề) kích thước 20cm x15cm,
  • 01 tờ giấy trắng (phơi đề) kích thước 5cm x 5cm thu giữ trên người Ngô Thị T; 01 tờ giấy kẻ ô ly (tịch đề) kích thước 30cm x15cm của Nguyễn Văn T2.
  • - Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện K đã trả lại cho Trần Quốc D 01 (một) chiếc điện thoại hiệu S2 Z Flip5 màu đen và xanh ngọc, số Imei 350290892039200 đã qua sử dụng.
  • - Truy thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 16.296.000 đồng (Mười sáu triệu hai trăm chín mươi sáu nghìn đồng) của bị cáo Trần Quốc D (trong đó 14.650.000 đồng là tiền trúng đề của các bị cáo Ngô Thị T, Phan B và 1.646.000 đồng là tiền bị cáo ghi số lô, số đề với bị cáo Nguyễn Văn T2).
  • - Truy thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 7.752.300 đồng (Bảy triệu bảy trăm năm mươi hai nghìn ba trăm đồng) của bị cáo Ngô Thị T; số tiền 7.904.000 đồng (Bảy triệu chín trăm lẻ bốn nghìn đồng) của bị cáo Phan B; số tiền 20.693.400 đồng (Hai mươi triệu sáu trăm chín mươi ba nghìn bốn trăm đồng) của bị cáo Nguyễn Văn T2 là tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc.
  • - Truy thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 38.952.645 đồng (Ba mươi tám triệu chín trăm năm mươi hai nghìn sáu trăm bốn mươi lăm đồng) là giá trị 01 căn phòng ngủ nơi bị cáo Trần Quốc D và bị cáo Ngô Thị T sử dụng để phạm tội.
  • - Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 560.000 đồng (Năm trăm sáu mươi nghìn đồng) là tiền Nguyễn Văn N2 đã ghi số lô số đề với Ngô Thị T.

[4] Về án phí: Căn cứ Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý vàsử dụng án phí và lệ phí. Buộc các bị cáo Trần Quốc D, Ngô Thị T, Phan B và Nguyễn Văn T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT I - TAND tối cao;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND huyện Krông Pắc;
  • - Công an huyện Krông Pắc;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk;
  • - Chi cục THADS huyện Krông Pắc;
  • - Các bị cáo;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Ea Phê, huyện Krông Pắc;
  • - Lưu Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(ĐÃ KÝ)

Nguyễn Thành Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55 /2024/HS-ST ngày 08/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK về hình sự sơ thẩm (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 55 /2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Quốc D + 3 BC phạm tội "Đánh bạc"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger