|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM TỈNH BẾN TRE Bản án số: 55/2024/HS-ST Ngày: 08 - 11 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
----------
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Huệ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thành Đông
Ông Nguyễn Thanh Khoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Minh Thơ - Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Du My - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 56/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
Võ Dũng S, sinh ngày 06/10/1984, tại tỉnh Bến Tre, tên gọi khác: không.
Nơi cư trú: ấp M, xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Tấn K, sinh năm 1953 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Kim M, sinh năm 1953; vợ Mai Yến P, sinh năm 1986 (đã ly hôn), có 01 người con sinh năm 2008; tiền án: không.
- Tiền sự: tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01/QĐ-XPHC ngày 20/12/2023 của Công an xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre xử phạt về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với số tiền 1.500.000 đồng, chưa nộp phạt.
- Về nhân thân:
- + Tại Bản án số 107/2020/HS-ST ngày 17/12/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre tuyên phạt 01 năm tù về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” chấp hành xong vào ngày 13/10/2021.
- + Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 33/QĐ-XPHC ngày 12/7/2024 của Công an huyện G, tỉnh Bến Tre phạt 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy chưa nộp phạt.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/6/2024, chuyển tạm giam từ ngày 30/6/2024 cho đến nay, bị cáo có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lê Minh H, sinh năm 1989. Nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Võ Dũng S là người sử dụng ma túy, ngày 26/6/2024, S đến khu vực gần cầu M thuộc địa phận xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre hỏi mua 01 gói ma túy (ma túy đá) của một người nam thanh niên (không biết họ tên, địa chỉ cụ thể) với giá 1.000.000 đồng, S đem gói ma túy về nhà tại ấp M, xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre phân ra thành 04 gói ma túy nhỏ nhằm mục đích để sử dụng và bán cho những người sử dụng ma túy khác kiếm lời.
Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 26/6/2024, Lê Minh H sử dụng điện thoại có số thuê bao 0917384396 gọi cho S có số thuê bao 0904908035 để hỏi mua một gói ma túy đá với giá 400.000 đồng, S đồng ý và hẹn H đến khu vực sân banh xã P thuộc ấp L, xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre để lấy ma túy. Khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày, S điều khiển xe mô tô biển số 51Z5-3999 của S đến điểm hẹn, S giao cho H một gói ma túy, H trả cho S 400.000 đồng, số tiền này S tiêu xài cá nhân hết.
Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 27/6/2024, S lấy ra 01 gói ma túy sử dụng một mình hết gói ma túy này tại phòng ngủ trong nhà S. Đến khoảng 12 giờ 30 phút ngày 27/6/2024, Lê Minh H tiếp tục điện thoại cho S để hỏi mua một gói ma túy đá với giá 400.000 đồng, S đồng ý và hẹn H đến khu vực sân banh xã P để lấy ma túy. S lấy 01 gói ma túy đã phân sẵn trước đó cầm trong lòng bàn tay rồi điều khiển xe mô tô biển số 51Z5-3999 chạy đến địa điểm hẹn để giao ma túy. Khi đến khu vực thuộc ấp L, xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre nhìn thấy lực lượng Công an nên S ném gói ma túy cùng điện thoại di động mà S dùng để liên lạc với H xuống đường thì bị lực lượng Công an phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng:
Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang:
- - 01 gói nylon màu trắng được hàn kín bốn cạnh, kích thước (4,3 x 02) cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy, được niêm phong trong phong bì ký hiệu NS4, mã số NS4 2000031;
- - 01xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, màu sơn đen trắng, biển số 51Z5-3999;
- - 01 điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A5S, vỏ màu đỏ, màn hình cảm ứng, kiểu máy: CPH1912, số IMEI 1: “863341040068073” số IMEL 2: “863341040068029, bên trong có gắn sim số: 0904908035;
- - 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy M32, vỏ màu xanh, màn hình cảm ứng; tiền Việt Nam 370.000 đồng, thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị Kim M (mẹ ruột S).
Vật chứng thu giữ qua khám xét khẩn cấp chỗ ở của Võ Dũng S tại ấp M, xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre:
- - 01 gói nylon màu trắng được hàn kín bốn cạnh, kích thước (4,7 x 2,4) cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng, nghi là ma túy, được niêm phong trong phong bì ký hiệu NS3, mã số NS3 215392;
- - 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, gồm: 01 chai nhựa màu trắng cao 15cm, đường kính 05cm, có gắn nắp nhựa màu trắng, trên nắp nhựa được khoét thủng 02 lỗ, 01 lỗ gắn 01 nỏ thủy tinh, 01 lỗ gắn 01 ống hút nhựa màu xanh trắng;
- - 01 đoạn ống hút nhựa dài 6,5cm, đường kính 0,5cm, được cắt nhọn 01 đầu;
- - 01 hộp giấy hình chữ nhật màu đỏ có chữ JOBOH, bên trong hộp giấy có 01 cân điện tử kích thước (12,1 x 6,3 x 2,1)cm, mặt sau có chữ “QC PASS 500g/0.01g";
Ngoài ra, còn tạm giữ của Lê Minh H: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, vỏ màu xanh, loại bàn phím, bên trong có gắn thẻ sim số 0917384396.
Tại Kết luận giám định số 532/2024/KL-KTHS ngày 30/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận:
- - Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) gói nylon được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu NS4, mã số NS4 2000031 gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 0,3213 gam.
- - Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) gói nylon được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu NS3, mã số NS3 2159392 gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,3125 gam.
Hoàn lại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G, tỉnh Bến Tre các mẫu vật sau giám định lần lượt có khối lượng: mẫu vật ký hiệu NS4: 0,2644 gam; mẫu vật ký hiệu NS3: 0,2556 gam.
Quá trình điều tra, Võ Dũng S khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết quả khám xét khẩn cấp, khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ, kết luận giám định cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án do Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập.
Bản Cáo trạng số 58/CT-VKSGT, ngày 15/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre truy tố bị cáo Võ Dũng S về “Tội mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Võ Dũng S đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo phù hợp với nội dung cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Võ Dũng S và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Võ Dũng S phạm “Tội mua bán trái phép chất ma túy”.
- - Về trách nhiệm hình sự: áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị phạt bị cáo Võ Dũng S có mức án từ 07 (bảy) năm đến 07 (năm) 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/6/2024.
- - Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:
- + Đối với: 01 phong bì số 532/2024 có chữ ký của Huỳnh Thanh N, Phan Trung T, Võ Dũng S và dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh B, bên trong có chứa mẫu vật sau giám định (Mẫu vật ký hiệu NS4: 0,2644 gam; mẫu vật ký hiệu NS3: 0,2556 gam) là chất ma túy loại Methamphetamine, là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, nên tịch thu và tiêu huỷ.
- + Đối với 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, gồm: 01 chai nhựa màu trắng cao 15cm, đường kính 05cm, có gắn nắp nhựa màu trắng, trên nắp nhựa được khoét thủng 02 lỗ, 01 lỗ gắn 01 nỏ thủy tinh, 01 lỗ gắn 01 ống hút nhựa màu xanh trắng; 01 đoạn ống hút nhựa dài 6,5cm, đường kính 0,5cm, được cắt nhọn 01 đầu; 01 hộp giấy hình chữ nhật màu đỏ có chữ JOBOH, bên trong hộp giấy có 01 cân điện tử kích thước (12,1 x 6,3 x 2,1)cm, mặt sau có chữ “QC PASS 500g/0.01g"; các thẻ sim: số: 0904908035 của bị cáo S và số 0917384396 của H. Các vật chứng nêu trên có liên quan đến dấu vết tội phạm hiện không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.
- + Đối với: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, màu sơn đen trắng, biển số 51Z5-3999; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A5S, vỏ màu đỏ, màn hình cảm ứng của bị cáo S; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, vỏ màu xanh, loại bàn phím của Lê Minh H, liên quan đến việc phạm tội, nên tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
- + Buộc bị cáo nộp 400.000 đồng tiền thu lợi bất chính tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Lời nói sau cùng của bị cáo là đã hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên vắng mặt, nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, tuy nhiên trong quá trình điều tra người liên quan đã có lời khai rõ ràng nên xét thấy sự vắng mặt của những người này không trở ngại cho việc xét xử, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng nêu trên theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: tại phiên tòa bị cáo Võ Dũng S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng với các tình tiết của vụ án, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra phù hợp với lời khai của người mua ma tuý, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập trong quá trình điều tra, do vậy có cơ sở khẳng định:
Nhằm mục đích thu lợi bất chính, trong hai ngày 26/6/2024 và ngày 27/6/2024, Võ Dũng S có hành vi bán trái phép chất ma túy (loại ma túy đá) cho Lê Minh H tổng cộng 02 lần trên địa bàn xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre. Trong đó ngày 26/6/2024, S bán cho H 01 gói ma túy thu lợi bất chính số tiền 400.000 đồng; ngày 27/6/2024 khi S đang trên đường đi giao 01 gói ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 0,3213gam với giá 400.000 đồng cho H nhưng chưa gặp H thì bị lực lượng Công an phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra bị cáo còn tàng trữ tại nhà ma tuý loại Methamphetamine khối lượng 0,3125gam với mục đích bán lại cho người nghiện khác.
Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Võ Dũng S đã đủ yếu tố cấu thành “Tội mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất và mức độ nguy hiểm lớn cho xã hội, bị cáo nhận thức được hành vi mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích mua bán cho người nghiện ma túy khác để thu lợi bất chính là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo đã bất chấp pháp luật để thực hiện. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác bởi ma túy là hiểm họa lớn cho toàn xã hội, gây tác hại cho sức khỏe, làm suy giảm nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.
[5] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
- - Về nhân thân: Bị cáo đã bị kết án 01 năm tù về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” và 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (trong đó 01 lần bị xử phạt về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01/QĐ-XPHC ngày 20/12/2023 của Công an xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre, tính đến thời điểm phạm tội chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính và 01 lần bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 33/QĐ-XPHC ngày 12/7/2024 của Công an huyện G, tỉnh Bến Tre). Do đó, xác định bị cáo có nhân thân xấu.
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: ngoài tình tiết định tội và định khung hình phạt bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên bị cáo đều được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có cậu tên Nguyễn Tứ P1 là liệt sĩ, về hoàn cảnh gia đình mẹ bị cáo là người cao tuổi, có bệnh lý đang điều trị, do vậy bị cáo được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi của bị cáo gây ra là rất nguy hiểm cho xã hội, xét về nhân thân bị cáo, xét thấy việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng một thời gian nhất định là điều cần thiết, nhằm để cải tạo, giáo dục bị cáo sau này trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, có ý thức chấp hành pháp luật, đồng thời để răn đe phòng ngừa tội phạm.
[7] Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:
- - Đối với: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy M32, vỏ màu xanh, màn hình cảm ứng; tiền Việt Nam 370.000 đồng, thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị Kim M (mẹ ruột S). Các vật chứng nêu trên không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã trả lại cho bà M là phù hợp với quy định của pháp luật.
- - Đối với: 01 phong bì số 532/2024 có chữ ký của Huỳnh Thanh N, Phan Trung T, Võ Dũng S và dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh B, bên trong có chứa các mẫu vật sau giám định (Mẫu vật ký hiệu NS4: 0,2644 gam; mẫu vật ký hiệu NS3: 0,2556 gam) là chất ma túy loại Methamphetamine và vỏ bao gói là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, xét cần tịch thu và tiêu hủy.
- - Đối với 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, gồm: 01 chai nhựa màu trắng cao 15cm, đường kính 05cm, có gắn nắp nhựa màu trắng, trên nắp nhựa được khoét thủng 02 lỗ, 01 lỗ gắn 01 nỏ thủy tinh, 01 lỗ gắn 01 ống hút nhựa màu xanh trắng; 01 đoạn ống hút nhựa dài 6,5cm, đường kính 0,5cm, được cắt nhọn 01 đầu; 01 hộp giấy hình chữ nhật màu đỏ có chữ JOBOH, bên trong hộp giấy có 01 cân điện tử kích thước (12,1 x 6,3 x 2,1)cm, mặt sau có chữ “QC PASS 500g/0.01g"; các thẻ sim: số: 0904908035 của bị cáo S và số 0917384396 của H. Các vật chứng nêu trên có liên quan đến dấu vết tội phạm hiện tại không còn giá trị sử dụng, xét nên tịch thu và tiêu hủy.
- - Đối với: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, màu sơn đen trắng, Biển số 51Z5-3999; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A5S, vỏ màu đỏ, màn hình cảm ứng của bị cáo; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, vỏ màu xanh, loại bàn phím của Lê Minh H, liên quan đến việc phạm tội nên xét cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- Bị cáo bán ma túy cho H thu lợi bất chính là 400.000 đồng nhưng bị cáo chưa nộp do vậy nên cần buộc bị cáo nộp 400.000 đồng để tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
[8] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Võ Dũng S, Lê Minh H (S sử dụng riêng một mình, H sử dụng riêng một mình), Công an huyện G đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
[9] Đối với việc Võ Dũng S khai mua ma túy của nam thanh niên không biết tên, địa chỉ cụ thể. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G chưa có thông tin để xác định được nhân thân, lai lịch của người thanh niên trên nên chưa có căn cứ để xử lý, nên đã chuyển thông tin đến bộ phận nghiệp vụ tiếp tục xác minh, làm rõ đối tượng này để xử lý theo quy định pháp luật.
[10] Đối với hành vi của Lê Minh H mua ma túy của Võ Dũng S để sử dụng: do H đã sử dụng hết ma túy mua của S, Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu được ma túy của H nên không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H về tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
[11] Đối với việc S mua ma túy về phân ra cất giấu tại nhà để sử dụng và bán cho những người sử dụng ma túy khác kiếm lời, bà Nguyễn Thị Kim M là mẹ ruột S, hoàn toàn không biết nên không có căn cứ xử lý đối với bà M.
[12] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo, về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp là có căn cứ đúng với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[13] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo S bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Võ Dũng S phạm “Tội mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Phạt bị cáo Võ Dũng S 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/6/2024.
- Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu và tiêu hủy:
- - 01(một) phong bì số 532/2024 có chữ ký của Huỳnh Thanh N, Phan Trung T, Võ Dũng S và dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh B, bên trong có chứa mẫu vật sau giám định (Mẫu vật ký hiệu NS4: 0,2644 gam; mẫu vật ký hiệu NS3: 0,2556 gam) là chất ma túy loại Methamphetamine và vỏ bao gói.
- - 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy, gồm: 01 chai nhựa màu trắng cao 15cm, đường kính 05cm, có gắn nắp nhựa màu trắng, trên nắp nhựa được khoét thủng 02 lỗ, 01 lỗ gắn 01 nỏ thủy tinh, 01 lỗ gắn 01 ống hút nhựa màu xanh trắng;
- - 01(một) đoạn ống hút nhựa dài 6,5cm, đường kính 0,5cm, được cắt nhọn 01 đầu;
- - 01(một) hộp giấy hình chữ nhật màu đỏ có chữ “JOBOH”, bên trong hộp giấy có 01 cân điện tử kích thước (12,1 x 6,3 x 2,1) cm, mặt sau có chữ “QC PASS 500g/0.01g";
- - Các thẻ sim: số 0904908035 của bị cáo Võ Dũng S và số 0917384396 của Lê Minh H.
Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước:
- - 01(một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, màu sơn đen trắng, biển số 51Z5-3999; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A5S, vỏ màu đỏ, màn hình cảm ứng, kiểu máy: CPH1912, số IMEI 1: “863341040068073” số IMEI 2: “863341040068029” của bị cáo Võ Dũng S.
- - 01(một) điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, vỏ màu xanh, loại bàn phím của Lê Minh H.
(Các vật chứng nêu trên được giao nhận theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 07/11/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm).
- Buộc bị cáo Võ Dũng S phải nộp 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) tiền thu lợi bất chính để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc: Bị cáo Võ Dũng S phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong tời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Thanh Huệ |
Bản án số 55/2024/HS-ST ngày 08/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre về tội mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 55/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tội mua bán trái phép chất ma túy
