|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 55/2024/HS-PT Ngày: 06 - 11 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mến
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thành
Ông Huỳnh Đắc Đương
Thư ký phiên tòa: Bà Kim Thị Ngà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Thoa - Kiểm sát viên.
- Hỗ trợ phiên tòa trực tuyến Tại điểm cầu thành phần: Ông Trần Minh T – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.
Ngày 06 tháng 11 năm 2024, tại 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh và điểm cầu thành phần tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải, Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 71/2024/HSPT, ngày 08 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo Nguyễn Văn E, Trang Đức V, Lâm Văn Đ, do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 31/2024/HSST ngày 12/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.
Các bị cáo có kháng cáo:
1. Nguyễn Văn E, sinh ngày 01/01/1983 tại tỉnh Trà Vinh; nơi cư trú: ấp L, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S (chết) và bà Lâm Thị C, sinh năm 1953; có vợ nhưng đã ly hôn và 01 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/10/2023, đến ngày 28/10/2023 chuyển sang tạm giam; ngày 16/01/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh và cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; bị cáo có mặt.
2. Trang Đức V, sinh ngày 25/9/1993 tại tỉnh Trà Vinh; nơi cư trú: ấp L, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trang Đức H, sinh năm 1961 và bà Trần Thị Thu V1, sinh năm 1964; có vợ và 02 con; tiền án: 01 lần (ngày 11/11/2016, bị Toà án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh xử phạt số tiền 15.000.000 đồng về tội Đánh bạc, chấp hành xong vào ngày 01/11/2023); tiền sự: Không; bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 22/01/2024 cho đến nay; bị cáo có mặt.
3. Lâm Văn Đ, sinh ngày 01/01/1983 tại tỉnh Trà Vinh; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Văn H1 (chết) và bà Trần Thị C1, sinh năm 1943; chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: 01 lần (ngày 13/01/2023, bị Công an xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.000.000 đồng về hành vi Đánh bạc, đã chấp hành xong); bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 22/01/2024 cho đến nay; bị cáo có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Kim T1, Nguyễn Quang T2, Trầm Thanh T3, Thạch Ngọc Đ1, do không có kháng cáo, không có kháng nghị và không liên quan đến kháng cáo nên không triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ ngày 21/10/2023, các bị cáo Nguyễn Văn E, Kim T1, Trang Đức V và Thạch H2 (tên thường gọi là H3 hiện đã chết), sinh năm 1976, nơi cư trú ấp T, xã N, huyện D, tỉnh Trà Vinh. Đi đến khu đất trống thuộc ấp M, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh để lắc bầu cua ăn thua bằng tiền. Khi đi đến địa điểm lắc bầu cua, các bị cáo T1, V và H2 mang theo bộ dụng cụ lắc bầu cua gồm xúc xắc có hình lập phương, mỗi hột xúc xắc tương ứng với 06 hình là bầu, cua, cá, gà, nai, tôm; 01 cái la làm bằng kim loại; 01 cái nắp đậy làm bằng nhựa. Trong quá trình đi đến điểm lắc bầu cua, H2 gặp bị cáo Thạch Ngọc Đ1 và H2 kêu bị cáo Đ1 giữ xe, canh đường để cảnh giới lực lượng công an, mua đồ ăn cho những người lắc bầu cua yên tâm và có sức để lắc bầu cua, H2 trả cho bị cáo Đ1 số tiền 25.000 đồng/giờ thì bị cáo Đ1 đồng ý. Vào địa điểm lắc bầu cua, bị cáo Đ1 lấy tấm bạc trải lên chiếc chiếu để cho những người chơi lắc bầu cua khỏi ướt, bị cáo Đ1 lấy sợi dây thừng treo đèn pin để chiếu sáng cho những người lắc bầu cua rồi bị cáo Đ1 đi ra ngoài giữ xe, canh đường. Do bị cáo E không mang theo dụng cụ lắc bầu cua nên H2 kêu bị cáo E hùn tiền với H2 để tham gia chung một tụ cái, trong đó H2 trực tiếp lắc còn bị cáo E chịu trách nhiệm thu chi tiền cược thì bị cáo E đồng ý. Lúc này, bị cáo E và H2 hùn làm cái 01 tụ; bị cáo T1 làm cái 01 tụ; bị cáo V làm cái 01 tụ và thống nhất mỗi người làm cái lắc một lần cho những người còn lại đặt và lắc xoay vòng theo chiều từ trái sang phải, thứ tự ngồi lúc này là H2, bị cáo T1, bị cáo V.
Cách thức lắc bầu cua ăn thua bằng tiền như sau: Người làm cái lắc bầu cua để trước mặt mình một tờ giấy có kẻ 06 ô vuông tương ứng với 06 hình: bầu, cua, cá, gà, nai, tôm để cho người đặt tiền vào các hình trên, người chơi có thể đặt tiền vào một hoặc nhiều hình trên tờ giấy đó. Sau đó, người làm cái sẽ lấy 03 hột xúc xắc được làm bằng giấy hình lập phương, mỗi hột xúc xắc tương ứng với 06 hình là bầu, cua, cá, gà, nai, tôm và bỏ vào cái đĩa nhôm rồi dùng hộp giấy úp lại và cầm lên xốc. Sau khi xốc xong, người làm cái sẽ mở hộp giấy ra xem hình xúc xắc. Khi mở xúc xắc, nếu mặt xúc xắc có hình cùng với hình mà người chơi đã đặt thì người chơi thắng với số tiền tương ứng đã đặt cược, cái thua với số tiền tương ứng, nếu không có hình mà người chơi đặt thì người chơi coi như đã thua số tiền cá cược, cái thắng. Nếu có hai mặt xúc xắc cùng một hình thì người chơi sẽ thắng gắp đôi và nếu có ba mặt xúc xắc cùng một hình thì người chơi sẽ thắng gấp ba.
Quá trình chơi bầu cua, H2 lấy ra số tiền 3.000.000 đồng đưa cho bị cáo E cầm trên tay (cả hai cùng thống nhất nếu hết số tiền 3.000.000 đồng này thì đến lượt bị cáo E bỏ ra số tiền 3.000.000 đồng tiếp tục chơi), bị cáo T1 lấy ra số tiền 4.000.000 đồng để dưới chân, bị cáo V lấy ra số tiền 1.200.000 đồng để dưới chiếu phục vụ đánh bạc và cùng bắt đầu tham gia đánh bạc. Tất cả thống nhất với nhau mỗi tụ đặt cược tối đa số tiền không quá 200.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc lúc này là 11.200.000 đồng. Tất cả lắc bầu cua đến khoảng 20 giờ 15 phút cùng ngày thì bị cáo Trầm Thanh T3 đi đến tham gia lắc bầu cua, bị cáo T3 ngồi đặt tụ ăn thua với những tụ làm cái. Bị cáo T3 lấy trong người ra số tiền 300.000 đồng cùng tham gia chơi bầu cua ăn thua bằng tiền. Tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc lúc này là 11.500.000 đồng. Cả nhóm chơi đánh bạc được một lúc thì bị cáo Lâm Văn Đ cũng đến nhưng bị cáo Đ không tham gia làm tụ cái mà ngồi đặt cược bên ngoài. Lúc này, bị cáo Đ dùng số tiền 200.000 đồng để tham gia đánh bạc và tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc lúc này là 11.700.000 đồng. Bị cáo Đ tham gia nhiều ván thua hết số tiền 200.000 đồng nên nghỉ ngồi xem. Sau đó, chị Nguyễn Thị Thu Đ2, sinh năm 1982, nơi cư trú ấp C, xã N, huyện D, tỉnh Trà Vinh đi đến nhưng ngồi xem không có tham gia đánh bạc.
Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, bị cáo Nguyễn Quang T2 đi đến điểm lắc bầu cua không làm cái mà lấy ra số tiền 1.500.000 đồng để đặt cược bên ngoài và tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc lúc này là 13.200.000 đồng. Chơi được vài ván thì bị cáo V nhường lại cho bị cáo T2 vào chỗ bị cáo V ngồi làm tụ cái, còn bị cáo V tham gia đặt cược bên ngoài. Khi vào làm tụ cái, bị cáo T2 lấy thêm số tiền 2.000.000 đồng cộng với số tiền đã lấy ra trước đó sử dụng để làm cái, bị cáo V lấy trong người ra thêm số tiền 2.750.000 đồng, bị cáo T3 lấy ra thêm số tiền 400.000 đồng để tiếp tục tham gia chơi bầu cua. Như vậy, tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc lúc này là 18.350.000 đồng. Cả nhóm chơi đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày thì bị cáo V hết tiền nên nghỉ ngồi xem, sau đó đến lượt bị cáo T3 hết tiền nên nghỉ về nhà. Lúc này, bị cáo E kiểm tra số tiền cầm trên tay được 19.000.000 đồng, bị cáo E đưa cho H2 15.000.000 đồng để H2 cất giữ, còn 4.000.000 đồng bị cáo E cầm trên tay tiếp tục tham gia đánh bạc. Bị cáo T1 tiếp tục lấy ra thêm 2.000.000 đồng để phục vụ đánh bạc và tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc lúc này là 20.350.000 đồng. Những người tiếp tục đánh bạc còn lại ba tụ cái là bị cáo T1 một tụ, bị cáo T2 một tụ và tụ của bị cáo E và H2, tiền đặt cược của mỗi tụ nâng lên mức tối đa là 400.000 đồng/tụ. Cả nhóm chơi lắc bầu cua đến khoảng 23 giờ cùng ngày thì Công an huyện D kết hợp với Công an xã Đ và Phòng C2 Công an tỉnh T vào kiểm tra bắt quả tang thu giữ trên chiếu bạc số tiền 5.610.000 đồng và những dụng cụ có liên quan đến việc đánh bạc dưới hình thức lắc bầu cua ăn thua bằng tiền.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D đã chứng minh được số tiền đánh bạc cụ thể như sau:
Bị cáo Nguyễn Văn E và Thạch H2 ban đầu bỏ ra số tiền 3.000.000 đồng phục vụ đánh bạc và chuẩn bị thêm 3.000.000 đồng nữa để đánh bạc. Kết quả thắng được số tiền 16.000.000 đồng.
Bị cáo Kim T1 đi đến địa điểm đánh bạc mang theo số tiền 6.080.000 đồng, sử dụng số tiền 6.000.000 đồng vào việc đánh bạc, thua hết 3.200.000 đồng, còn lại số tiền 2.800.000 đồng để trên chiếu bạc.
Bị cáo Nguyễn Quang T2 đi đến địa điểm đánh bạc mang theo số tiền 3.500.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc, thu hết 690.000 đồng, còn lại số tiền 2.810.000 đồng để trên chiếu bạc.
Bị cáo Trang Đức V đi đến địa điểm đánh bạc mang theo số tiền 4.000.000 đồng và sử dụng số tiền 3.950.000 đồng vào việc đánh bạc và thua hết số tiền 3.950.000 đồng.
Bị cáo Trầm Thanh T3 đi đến địa điểm đánh bạc mang theo số tiền 1.200.000 đồng, sử dụng số tiền 700.000 đồng vào mục đích đánh bạc và thua hết số tiền 700.000 đồng.
Bị cáo Lâm Văn Đ đi đến địa điểm đánh bạc mang theo số tiền 230.000 đồng, sử dụng số tiền 200.000 đồng vào mục đích đánh bạc và thua hết số tiền 200.000 đồng.
Đối với bị cáo Thạch Ngọc Đ1 tuy không trực tiếp đánh bạc nhưng có hành vi trải tấm bạc cho những người đánh bạc ngồi, lấy dây thừng treo đèn pin để chiếu sáng cho những người lắc bầu cua, đi mua đồ ăn thức uống cho người khác tham gia đánh bạc có sức để đánh bạc, được những người lắc bầu cua cho số tiền 400.000 đồng. Đồng thời, bị cáo Đ1 có hành vi coi xe và canh đường cảnh giới lực lượng Công an để cho những người đánh bạc yên tâm đánh bạc.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 31/2024/HS – ST ngày 12 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải đã xét xử.
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn E, Trang Đức V, Lâm Văn Đ phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự;
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn E 08 (tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/10/2023 đến ngày 16/01/2024. Phạt bổ sung số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng.
- - Xử phạt bị cáo Lâm Văn Đ 07 (bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Phạt bổ sung số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng.
Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt bị cáo Trang Đức V 08 (tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Phạt bổ sung số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn xử phạt bị cáo Kim T1, Nguyễn Quang T2, Trầm Thanh T3, Thạch Ngọc Đ1, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 26/8/2024 bị cáo bị cáo Nguyễn Văn E kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 26/8/2024 các bị cáo Lâm Văn Đ, Trang Đức V kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Nguyễn Văn E, Lâm Văn Đ, Trang Đức V thừa nhận bản án sơ thẩm quy kết hành vi phạm tội của các bị cáo là đúng, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội không kêu oan và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và không cung cấp tình tiết mới tại phiên tòa.
Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh: Sau khi xem xét toàn diện nội dung vụ án, lời trình bày của các bị cáo và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xử các bị cáo Nguyễn Văn E, Lâm Văn Đ, Trang Đức V phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1, khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xét xử các bị cáo là đúng người, đúng tội đúng quy định pháp luật. Mức hình phạt mà bản án sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Văn E 08 tháng tù, bị cáo Trang Đức V 08 tháng tù và bị cáo Lâm Văn Đ 07 tháng tù và phạt bổ sung mỗi bị cáo 15.000.000 đồng là đã đánh giá đúng tính chất vụ án và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ theo quy định khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay các bị cáo cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới là hoàn cảnh gia đình đơn chiếc, là lao động chính trong gia đình theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, tuy nhiên những tình tiết giảm nhẹ này cũng không làm thay đổi về mức hình phạt mà bản án sơ thẩm đã áp dụng đối với các bị cáo. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của các bị cáo còn trong thời hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Đối với yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn E, Lâm Văn Đ, Trang Đức V Hội đồng xét xử nhận thấy: tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thừa nhận: Vào khoảng 23 giờ ngày 21/10/2023 tại khu đất trống thuộc ấp M, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh, Công an huyện D kết hợp với Công an xã Đ và Phòng C2 Công an tỉnh T vào kiểm tra bắt quả tang các bị cáo tham gia đánh bạc dưới hình thức lắc bầu cua ăn thua bằng tiền, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 5.610.000 đồng và những dụng cụ có liên quan đến việc đánh bạc. Quá trình điều tra đã chứng minh tại chiếu bạc bị cáo Nguyễn Văn E đánh bạc là 20.350.000 đồng, bị cáo Trang Đức V số tiền đánh bạc là 18.350.000 đồng, bị cáo Lâm Văn Đ số tiền đánh bạc là 11.700.000 đồng. Do đó, Bản án sơ thẩm quy kết các bị cáo Nguyễn Văn E, Lâm Văn Đ, Trang Đức V phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ đúng quy định pháp luật.
[3] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Văn E, Lâm Văn Đ, Trang Đức V là nguy hiểm cho xã hội. Bản thân các bị cáo nhận thức được việc đánh bạc bằng hình thức lắc bầu cua được thắng, thua bằng tiền là hành vi vi phạm pháp luật nhưng bất chấp để thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện ý thức xem thường pháp luật. Bị cáo Trang Đức V đã có một tiền án về tội đánh bạc, bị cáo Lâm Văn Đ đã có một tiền sự về tội đánh bạc, các bị đều có nhân thân xấu, số tiền đánh bạc ít nhất trên 11.000.000 đồng và cao nhất là trên 20.000.000 đồng. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm xử các bị cáo bị cáo Nguyễn Văn E, bị cáo Trang Đức V 08 tháng tù và phạt bổ sung mỗi bị cáo 15.00.000 đồng, bị cáo Lâm Văn Đ 07 tháng tù và phạt bổ sung 10.000.000 đồng là nhằm đáp ứng tình hình chính trị tại địa phương và áp dụng hết các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, tại phiên tòa hôm nay các bị cáo trình bày các căn cứ xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo nhưng không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào đặc biệt mới theo khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.
[4] Xét quan điểm của Kiểm sát viên xét xử phúc thẩm có phần phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, không liên quan đến kháng cáo đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6] Về án phí: Do kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn E, Lâm Văn Đ, Trang Đức V không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Tòa án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm xét xử đối với bị cáo Kim T1, Nguyễn Quang T2, Trầm Thanh T3, Thạch Ngọc Đ1 mặc dù các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, tuy nhiên các bị cáo tham gia đánh bạc và giúp sức cho việc đánh bạc với số tiền thấp nhất là 18.350.000 đồng và nhiều nhất là 20.350.000 đồng, vụ án tập trung nhiều người tham gia đánh bạc, có phân công canh gác lực lượng chức năng, tuy nhiên cấp sơ thẩm cho các bị cáo hưởng án treo là chưa nghiêm, chưa đáp ứng tình hình đấu tranh loại tội phạm này tại tỉnh Trà Vinh, cũng như tại huyện D hiện nay, do đó Tòa án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn E, Lâm Văn Đ, Trang Đức V.
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 31/2024/HSST ngày 12/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn E, Lâm Văn Đ, Trang Đức V phạm tội “Đánh bạc”.
- - Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn E 08 (tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/10/2023 đến ngày 16/01/2024. Phạt bổ sung số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng.
- - Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Trang Đức V 08 (tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Phạt bổ sung số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng.
- - Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Lâm Văn Đ 07 (bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Phạt bổ sung số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 12, 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn E, Trang Đức V, Lâm Văn Đ mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Mến |
Bản án số 55/2024/HS-PT ngày 06/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về hình sự - đánh bạc
- Số bản án: 55/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tội đánh bạc
