TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 55/2024/HNGĐ – ST
Ngày 27 tháng 9 năm 2024
V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- + Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lã Hùng Cường.
- + Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Huy Dương; Bà Đào Thị Minh Nguyệt.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Hiếu – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 76/2024/TLST- HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2024, về việc hôn nhân và gia đình, theo đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXXST- DS ngày 22 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 25 /2024/QÐST-HNGĐ ngày 06/9/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1985 (Có đơn xin xét xử vắng mặt);
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Bích L, sinh năm 1985; (Vắng mặt)
Cùng ĐKHKTT: Số C T, phường T, thị xã S, TP .;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời trình bày tiếp theo trong quá trình tố tụng tại Tòa án, anh Nguyễn Văn T là nguyên đơn trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị Bích L đăng ký kết hôn ngày 29/12/2006 tại Ủy ban nhân dân phường T, thị xã S, TP . qua tự do tìm hiểu theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại địa chỉ số C T, phường T, thị xã S, TP . Vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống không hợp tính cách dẫn đến thường xuyên xô xát, cãi vã. Từ năm 2009 đến nay vợ chồng anh chị sống ly thân, hai bên không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Nay anh T xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị L.
+ Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Văn H, sinh ngày 06/01/2008. Hiện cháu H đang ở với chị L. Sau khi ly hôn anh T đồng ý giao cháu H cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, anh T sẽ cấp dưỡng nếu chị L có yêu cầu. Nếu chị L không nuôi dưỡng con chung thì anh T đồng ý nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con chung.
- - Về tài sản chung, công sức chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về công nợ chung: Anh T xác định không có.
- - Về án phí: Anh T tự nguyện chịu án phí ly hôn, theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng cho chị Nguyễn Thị Bích L theo địa chỉ gia đình tại Khu H, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ, tuy nhiên chị L không có văn bản trình bày quan điểm về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không đến Tòa án làm việc, hòa giải.
Tòa án cũng tiến hành xác minh tại nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của chị L và gia đình của chị L tại Khu H, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Tại Biên bản xác minh ngày 04/7/2024, Công an phường T cho biết chị L vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại 0 T, phường T, thị xã S, TP .. Tại Biên bản xác minh ngày 09/8/2024, đại diện gia đình chị L cho biết: Chị L có kết hôn với anh Nguyễn Văn T, đăng ký kết hôn ngày 29/12/2006 tại UBND phường T, thị xã S, TP .. Sau khi kêt hôn, anh chị sinh sống tại phường T, thị xã S, chung sống hạnh phúc thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T không quan tâm đến gia đình. Từ năm 2014 đến nay anh chị sống ly thân. Anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Văn H, sinh ngày 06/01/2008, hiện cháu H đang ở với với gia đình chị L. Hiện chị L đang đi làm xa, gia đình không biết cụ thể địa chỉ nhưng chị L vẫn liên lạc về gia đình. Gia đình có nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án giao cho chị L và thông báo lại cho chị L biết, chị L có nói với gia đình nhất trí ly hôn, có nguyện vọng tiếp tục nuôi dưỡng cháu H và không không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, công nợ chung, công sức chung. Nay anh T có đơn yêu cầu giải quyết ly hôn với chị L, đại diện chính quyền địa phương và gia đình đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tòa án cũng tiến hành lấy ý kiến của cháu Nguyễn Văn H, tại Bản tự khai ngày 21/6/2024, cháu H trình bày nguyện vọng được ở với chị L.
Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, do chị L không đến Tòa án làm việc nên anh T đề nghị Tòa án đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã công bố các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đúng như lời khai và biên bản xác minh.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
+ Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về nội dung vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Văn T được ly hôn với chị Nguyễn Thị Bích L. Về con chung: Có 01 con chung là Nguyễn Văn H, sinh ngày 06/01/2008. Giao cháu H cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung với anh T. Anh T có quyền thăm nom, chăm sóc con chung sau khi ly hôn không ai được ngăn cản. Về tài sản chung, nợ chung, công sức chung: Đề nghị Tòa án không xem xét. Anh T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà;
[1] Về pháp luật tố tụng: Tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình”, bị đơn trong vụ án là chị Nguyễn Thị Bích L có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường T, thị xã S, TP . nên theo quy định tại khoản 1 điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án nhân dân nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Trong quá trình giải quyết tại Tòa án, Tòa án đã tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ, hòa giải, ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử và tống đạt hợp lệ cho nguyên đơn, bị đơn. Ngày 06/9/2024, Tòa án đã mở phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ nhất không có lý do, Tòa án căn cứ điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quyết định hoãn phiên tòa, ấn định thời gian mở lại phiên tòa vào ngày 27/9/2024. Tòa án đã tống đạt Quyết định hoãn phiên tòa cho nguyên đơn và bị đơn theo đúng quy định tại Điều 172, 177 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ các điều 227, 228 BLTTDS xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2]Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị Bích L kết hôn tuân thủ đầy đủ các điều kiện kết hôn và thủ tục về kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình, do đó quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị L là hợp pháp.
Trong thời gian chung sống anh T và chị L có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân bất đồng quan điểm sống dẫn đến mâu thuẫn nặng nề căng thẳng. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2014 đến nay. Nay anh T xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với chị L. Quá trình giải quyết vụ án, chị L không đến Tòa án làm việc, tham gia hòa giải không trình bày quan điểm về quan hệ hôn nhân, không đưa ra phương án giải quyết mâu thuẫn để vợ chồng đoàn tụ.
Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn giữa anh T và chị L là trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của luật Hôn nhân và gia đình 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Bích L, xử cho anh Nguyễn Văn T được ly hôn với chị Nguyễn Thị Bích L.
[3] Về con chung: Anh Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị Bích L có 01 con chung là cháu Nguyễn Văn H, sinh ngày 06/01/2008. Hiện cháu H đang ở với gia đình chị L. Anh T trình bày đồng ý giao cháu H cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Chị L không có ý kiến bằng văn bản nộp tại Tòa án về con chung.
Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện cháu H đang ở với chị L, cháu H cũng có nguyện vọng tiếp tục ở với mẹ, anh T cũng đồng ý giao cháu H cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế, đảm bảo được sự phát triển tốt nhất về tâm sinh lý, thể chất, sinh hoạt của các con chung cũng như phù hợp với quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
Do chị Nguyễn Thị Bích L không trình bày yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con chung nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Nguyễn Văn T cho đến khi có yêu cầu mới. Sau khi ly hôn, anh T được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.
[4] Về tài sản chung, công sức chung; Công nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết, chị L không trình bày quan điểm nên Hội đồng xét xử giành quyền cho chị L khởi kiện anh T bằng vụ kiện dân sự khác khi có đủ căn cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
[5] Về án phí: Anh T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1, Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 1, khoản 2 Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 6, điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.
Xử:
- Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Nguyễn Văn T được ly hôn chị Nguyễn Thị Bích L.
- Về con chung: Có 01 con chung là cháu Nguyễn Văn H, sinh ngày 06/01/2008. Giao cháu Nguyễn Văn H cho chị Nguyễn Thị Bích L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi cháu H đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.
Anh Nguyễn Văn T được quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung của người trực tiếp nuôi con.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm miễn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Nguyễn Văn T đến khi có đơn yêu cầu hoặc có sự thay đổi khác.
- Về tài sản chung, công sức; Công nợ chung: Giành quyền cho chị Nguyễn thị Bích L khởi kiện anh Nguyễn Văn T bằng vụ kiện khác khi có đủ căn cứ theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Anh Nguyễn Văn T phải chịu toàn bộ 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Đối trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí anh Nguyễn Văn T đã nộp theo Biên lai số: 0000945 ngày 27/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, TP ..
- Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị Bích L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án, quyết định được niêm yết, tống đạt hợp lệ. Viện Kiểm sát nhân dân có quyền kháng nghị theo quy định.
“ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự“.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lã Hùng Cường |
Bản án số 55/2024/HNGĐ – ST ngày 27/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 55/2024/HNGĐ – ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh T ly hôn chị L
