|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA Bản án số: 55/2024/DS-ST Ngày 25 tháng 7 năm 2024 V/v: "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG,
TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Ngọc Yến Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Ngọc Lan
Bà Nguyễn Thị Thanh Thúy
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 552/2023/TLST-DS ngày 27 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2024/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 63/2024/QĐST-DS ngày 08 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Bích L, sinh năm: 1978;
Địa chỉ: Thôn H, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Tuấn A, sinh năm: 2000; Địa chỉ: Số D N, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa (Theo Giấy ủy quyền được Văn phòng C1 chứng nhận ngày 05/7/2024); Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm: 1980;
Địa chỉ thường trú: D1.4T2 Chung cư V, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Chỗ ở hiện nay: Căn 513 Chung cư CT2, V, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Vắng mặt.
- Người làm chứng: Bà Nguyễn Ngọc C, sinh năm: 1965;
Địa chỉ: Thôn H, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai đề ngày 25/7/2024, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Bà Nguyễn Thị L1 có vay tôi số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng), thời hạn vay trong vòng 01 (Một) tháng, từ ngày 24/02/2023 đến ngày 24/3/2023. Vì thời hạn vay ngắn và cũng là chỗ quen biết nên tôi đồng ý cho bà L1 vay số tiền trên. Hai bên có viết giấy vay tiền ngày 24/02/2023 để làm tin, trong giấy vay có thỏa thuận trả tiền lãi theo lãi suất của ngân hàng nhưng trên thực tế tôi và bà L1 có thỏa thuận miệng tiền lãi là 20%/năm (1,66%/tháng).
Tuy nhiên, khi tới thời hạn trả tiền là ngày 24/3/2023, bà L1 đã không thực hiện đúng cam kết với tôi, liên tục hứa hẹn nhưng không chịu trả số tiền gốc và số tiền lãi như đã thỏa thuận. Kể từ ngày đến hạn trả nợ cho đến nay đã hơn 01 năm, mặc dù tôi đã liên hệ nhiều lần nhưng bà L1 vẫn không chịu trả lại số tiền đã vay. Vì vậy, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tôi yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang buộc bà Nguyễn Thị L1 phải có nghĩa vụ trả lại cho tôi toàn bộ số tiền gốc và tiền lãi theo Giấy vay tiền ngày 24/02/2023, tiền lãi chậm trả và tiền lãi trên nợ lãi chưa trả theo quy định của pháp luật, cụ thể:
- - Số tiền gốc bà Nguyễn Thị L1 đã mượn theo Giấy vay tiền: 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng);
- - Số tiền lãi trong thời gian vay theo Giấy vay tiền từ ngày vay 24/02/2023 đến hạn ngày 24/3/2023 là: 1.000.000.000 x lãi suất 1,66% x 1 tháng = 16.600.000 đồng (Mười sáu triệu sáu trăm nghìn đồng);
- - Số tiền lãi chậm trả tạm tính từ ngày 25/3/2023 đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm (ngày 25/7/2024) là: 1.000.000.000 x 150% x lãi suất 1,66% x 16 tháng = 398.400.000 đồng (Ba trăm chín mươi tám triệu bốn trăm nghìn đồng);
- - Số tiền lãi trên nợ lãi chưa trả tính từ ngày 25/3/2023 đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm (ngày 25/7/2024) là: 16.600.000 đồng x lãi suất 0,83% (theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015) x 16 tháng = 2.204.000 đồng (Hai triệu hai trăm lẻ tư nghìn đồng).
Tổng cộng tạm tính toàn bộ tiền gốc, tiền lãi trong thời gian vay, tiền lãi chậm trả, tiền lãi trên nợ lãi chưa trả tính đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm (ngày 25/7/2024) là: 1.417.204.000 đồng (Một tỷ bốn trăm mười bảy triệu hai trăm lẻ bốn nghìn đồng).
* Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn bà Nguyễn Thị L1 nhưng bị đơn vẫn cố tình trốn tránh, không đến Tòa để cung cấp lời khai cũng như không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh để tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
* Người làm chứng trình bày tại bản tự khai được Văn phòng công chứng Phạm Văn T chứng nhận ngày 15/6/2024: Tôi là người sống gần nhà bà Trần Thị Bích L. Vào ngày 24/02/2023, tôi chứng kiến việc bà Nguyễn Thị L1 có ký giấy vay số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) của bà L, với thời hạn vay trong vòng 01 tháng. Việc giao nhận tiền hai bên tự làm việc với nhau, còn tôi không chứng kiến nhưng tôi xin xác nhận bà L1 có ký giấy vay tiền nói trên.
* Tại phiên tòa:
- Các đương sự đều vắng mặt.
- Kiểm sát viên - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đã chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 429, Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 5 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Bích L; Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị L1 thanh toán cho bà L, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, tổng số tiền còn nợ là: 1.417.204.000 đồng (Một tỷ, bốn trăm mười bảy triệu, hai trăm lẻ tư nghìn đồng); Trong đó, tiền gốc: 1.000.000.000 đồng; Tiền lãi trong thời gian vay theo Giấy vay tiền từ ngày vay 24/02/2023 đến hạn ngày 24/3/2023 là: 16.600.000 đồng; Tiền lãi chậm trả tính từ ngày 25/3/2023 đến ngày 25/7/2024 là: 1.000.000.000 đồng x 150% x 1,66%/tháng x 16 tháng = 398.400.000 đồng; Tiền lãi trên nợ lãi chưa trả tính từ ngày 25/3/2023 đến ngày 25/7/2024 là: 16.600.000 đồng x 0,83%/tháng x 16 tháng = 2.204.000 đồng.
Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn bà Trần Thị Bích L với bị đơn bà Nguyễn Thị L1 (Địa chỉ thường trú: D1.4T2 Chung cư V, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Chỗ ở hiện nay: Căn 513 Chung cư CT2, V, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa), thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39 và điểm a khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trần Thị Bích L và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; Bị đơn bà Nguyễn Thị L1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do chính đáng; Người làm chứng vắng mặt nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự có tên nêu trên.
- Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Theo lời trình bày của nguyên đơn bà Trần Thị Bích L, do mối quan hệ quen biết nên bà L có cho bà Nguyễn Thị L1 vay tiền; Ngày 24/02/2023, các bên đã viết Giấy vay tiền, với nội dung: “Tôi Nguyễn Thị L1, sinh năm: 1980; Đang ở tại chung cư C, V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Hôm nay ngày 24/02/2023 có vay chị Trần Thị Bích L - 1978, số tiền là 01 tỉ đồng. Kể từ ngày vay đến ngày trả là 24/3/2024.... Bên vay cam kết sẽ đóng lãi suất theo lãi suất ngân hàng cho chị L”; Bên cho vay (bà Trần Thị Bích L), bên vay (bà Nguyễn Thị L1) và người làm chứng (bà Nguyễn Ngọc C) đã ký vào giấy vay tiền nói trên.
- Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị L1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn cố tình trốn tránh, không trình bày ý kiến cũng như không cung cấp tài liệu, chứng cứ có liên quan đến giao dịch đang tranh chấp. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào lời khai của nguyên đơn cùng các tài liệu đã thu thập được, thì thấy lời khai của nguyên đơn phù hợp với nội dung được thể hiện tại Giấy vay tiền đề ngày 24/02/2023; Phù hợp với lời khai của người làm chứng là bà Nguyễn Ngọc C. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định bà Nguyễn Thị L1 có vay của bà Trần Thị Bích L số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng), là sự thật. Khi đến hạn, bà L1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay cho bà L, là xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà L. Do đó, nguyên đơn bà Trần Thị Bích L yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị L1 trả lại cho nguyên đơn số tiền nợ gốc 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng), là hoàn toàn có căn cứ để chấp nhận.
- Về yêu cầu tính lãi đối với khoản nợ vay: Nguyên đơn bà Trần Thị Bích L khai nhận khi lập giấy vay tiền có ghi lãi suất vay theo lãi suất Ngân hàng. Tuy nhiên, giữa bà và bà L1 có thỏa thuận miệng với mức lãi suất 20%/năm (1.66%/tháng). Nay, bà L yêu cầu bà L1 phải trả các khoản tiền lãi sau:
- - Số tiền lãi trong thời gian vay từ ngày 24/02/2023 đến ngày 24/3/2023 là: 1.000.000.000 đồng x 1,66%/tháng x 01 tháng = 16.600.000 đồng (Mười sáu triệu sáu trăm nghìn đồng);
- - Số tiền lãi trên nợ lãi chưa trả tính từ ngày 25/3/2023 đến ngày Tòa án tuyên án khi xét xử sơ thẩm (ngày 25/7/2024) là: 16.600.000 đồng x 0,83%/tháng x 16 tháng = 2.204.000 đồng (Hai triệu hai trăm lẻ bốn nghìn đồng);
- - Số tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả tính từ ngày 25/3/2023 đến ngày Tòa án tuyên án khi xét xử sơ thẩm (ngày 25/7/2024) là: 1.000.000.000 đồng x 150% x 1,66%/tháng x 16 tháng = 398.400.000 đồng (Ba trăm chín mươi tám triệu bốn trăm nghìn đồng);
Hội đồng xét xử nhận thấy Giấy vay tiền đề ngày 24/02/2023 giữa bà Trần Thị Bích L với bà Nguyễn Thị L1 không phải là hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về lãi. Khi đến hạn, bà L1 có nghĩa vụ trả cho bà L tiền lãi theo quy định tại khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015. Hơn nữa, bà L yêu cầu bà L1 phải thanh toán tiền lãi với mức lãi suất 1.66%/tháng, là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 và quy định tại khoản 3 Điều 2, khoản 2 Điều 5 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả các khoản tiền lãi nêu trên là có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Do toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Thị Bích L được chấp nhận, nên bị đơn bà Nguyễn Thị L1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền: 54.516.120 đồng; Làm tròn: 54.516.000 đồng (Năm mươi tư triệu năm trăm mười sáu nghìn đồng).
- Hoàn trả cho bà Trần Thị Bích L số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm 24.273.432 đồng (Hai mươi bốn triệu hai trăm bảy mươi ba ngàn bốn trăm ba mươi hai đồng), theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 00017000 ngày 19/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm a khoản 1 Điều 40, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- - Điều 463; khoản 1, khoản 5 Điều 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Khoản 3 Điều 2; Khoản 2 Điều 5 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
- - Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Bích L;
Bị đơn bà Nguyễn Thị L1 có nghĩa vụ thanh toán cho bà Trần Thị Bích L một lần và đầy đủ, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, số tiền nợ là: 1.417.204.000 đồng (Một tỷ bốn trăm mười bảy triệu hai trăm lẻ bốn nghìn đồng); Trong đó:
- - Tiền nợ gốc: 1.000.000.000 đồng;
- - Tiền lãi trong thời gian vay tính từ ngày 24/02/2023 đến ngày 24/3/2023 là 16.600.000 đồng (Mười sáu triệu sáu trăm nghìn đồng);
- - Tiền lãi chậm trả tính từ ngày 25/3/2023 đến ngày 25/7/2024 là 398.400.000 đồng (Ba trăm chín mươi tám triệu bốn trăm ngàn đồng);
- - Tiền lãi trên nợ lãi chưa trả tính từ ngày 25/3/2023 đến ngày 25/7/2024 là 2.204.000 đồng (Hai triệu hai trăm lẻ bốn nghìn đồng).
- Về án phí:
- Bà Nguyễn Thị L1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền: 54.516.000 đồng (Năm mươi tư triệu năm trăm mười sáu nghìn đồng).
- Hoàn trả cho bà Trần Thị Bích L số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm 24.273.432 đồng (Hai mươi bốn triệu hai trăm bảy mươi ba nghìn bốn trăm ba mươi hai đồng), theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 00017000 ngày 19/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang.
- Quy định:
- Kể từ ngày 26/7/2024 (Là ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất các bên thỏa thuận là 20%/năm.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Ngọc Yến Anh |
Bản án số 55/2024/DS-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 55/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Liên - Lan
