|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 55/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 17/6/2024
V/v tranh chấp: Xin ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Mỹ Nhung
Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Thắm.
- Ông Nguyễn Thanh Tùng.
Thư ký phiên tòa: Bà Nhâm Thị Thanh Trang, Thư ký Tòa án nhân dân quận Cái Răng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Quốc – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cái Răng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 44/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2024. Về tranh chấp “Xin ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 159/2024/QĐXX-ST ngày 27 tháng 5 năm 2024. Giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà ĐẶNG THỊ KIM L (Phượng), sinh năm 1991.
Địa chỉ: 16C/6, Khu vực 2, Phường H T, Quận Cái Răng, TP.Cần Thơ. Số điện thoại: 0986.110.xxx. Có mặt.
- Bị đơn: Ông HUỲNH VĂN T, sinh năm 1987.
Địa chỉ: 108, Khu vực P K, Phường P T, Quận Cái Răng, TP.Cần Thơ. Số điện thoại: 0765.956.xxx. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn xin ly hôn ngày 27/11/2023 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ĐẶNG THỊ KIM L trình bày:
1/ Về hôn nhân: bà và ông HUỲNH VĂN T tự nguyện kết hôn vào năm 2014, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Phú Thứ, Q. Cái Răng, TP. Cần Thơ vào ngày 26/02/2014. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, nhưng dần về sau thì vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn. Nguyên nhân là bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cải vã do ông T nhậu nhẹt, có quan hệ bất chính. Bà đã cố hàn gắn để vợ chồng đoàn tụ nhưng mâu thuẫn ngày càng lớn, không hàn gắn được nên ly thân, bà L dọn về ở chung nhà mẹ ruột của từ tháng 9 năm 2023 đến nay. Nhận thấy không còn tình cảm với ông T, không thể hàn gắn được nên bà Kim Liên xin ly hôn để không còn ràng buộc với nhau.
2/ Về con chung: Bà khai vợ chồng không có 01 con chung tên Đặng Minh Hiếu (nam) sinh ngày 16/4/2010, bà L yêu cầu được nuôi cháu Đặng Minh Hiếu và không yêu cầu ông T cấp dưỡng để nuôi con.
3/ Về tài sản chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4/ Nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết, bị đơn ông HUỲNH VĂN T đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt không rõ lý do. Vì thế Tòa án không tiến hành hòa giải được. Sau khi tiến hành đầy đủ các thủ tục cần thiết theo qui định, vụ án được đưa ra xét xử công khai vắng mặt bị đơn.
Trước phiên tòa hôm nay: Nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu xin được ly hôn, Con chung bà L yêu cầu được nuôi cháu Đặng Minh Hiếu (nam) sinh ngày 16/4/2010 và không yêu cầu ông T cấp dưỡng để nuôi con.
Về tài sản chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án điều chỉnh. Bị đơn HUỲNH VĂN T tiếp tục vắng mặt không rõ lý do.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: là phù hợp quy định pháp luật, chưa có vi phạm.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ vào lời trình bày tại phiên tòa hôm nay của phía nguyên đơn và các chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp trong hồ sơ, xác định yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nội dung cụ thể được trình bày tại Bài phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa (kèm theo hồ sơ).
Sau khi nghe ý kiến phát biểu của nguyên đơn và đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Bà ĐẶNG THỊ KIM L và ông HUỲNH VĂN T xây dựng quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo qui định của pháp luật. Nên được xác định đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, thuộc phạm vi điều chỉnh của luật hôn nhân gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
[2] Nhận thấy cuộc sống chung của hai vợ chồng chỉ mới bắt đầu với thời gian ngắn, lẽ ra cả hai phải càng hiểu ý nghĩa hôn nhân và quan tâm đến nhau nhiều hơn. Nhưng ông T lại không quan tâm đến hôn nhân, không thiện chí hàn gắn khi có rạn nứt trong quan hệ vợ chồng. Thậm chí khi bà Kim Liên có đơn xin ly hôn tại tòa án ông vẫn không quan tâm, không liên hệ với Tòa án để trình bày ý kiến của mình. Qua xác nhận của Công an phường Phú Thứ ngày 17/4/2024 (BL 32) thì ông T có HKTT và hiện vẫn đang sinh sống tại địa phương nhưng cố tình vắng mặt không liên hệ với Tòa án để giải quyết vụ kiện. Chứng tỏ ông không có thiện chí muôn duy trì cuộc hôn nhân này với bà Kim Liên nữa.
[3] Mặc dù đã được động viên hàn gắn đoàn tụ nhưng bà Kim Liên cho rằng giữa vợ chồng không hòa hợp về tính cách nên thường gây gỗ, ông T không quan tâm đến bà, làm cho bà tổn thương nhiều lần. Bản thân bà cũng không còn tình cảm gì với ông T, không còn tha thiết muốn duy trì cuộc hôn nhân này nữa. Hội đồng xét xử nhận thấy đời sống chung thực tế của hai vợ chồng bà Kim Liên và ông T đã không còn tồn tại, mục đích hôn nhân của hai người không đạt được. Và hôn nhân thì phải xuất phát từ sự tự nguyện của cả hai người. Nên việc bà ĐẶNG THỊ KIM L xin được ly hôn là hoàn toàn phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về con chung: tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn xác định vợ chồng có 01 con chung tên Đặng Minh Hiếu (nam) sinh ngày 16/4/2010 đang sống với bà. Bà Kim Liên có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con. Xét cháu Đặng Minh Hiếu (nam) sinh ngày 16/4/2010, hơn 14 tuổi, hiện đang sống với bà Kim Liên. Cháu Hiếu có nguyện vọng được tiếp tục được sống với mẹ (BL 30). Mặc khác, trong thời gian vợ chồng ly thân cho đến hiện nay cháu đều do bà Kim Liên nuôi dưỡng và đảm bảo tốt về mọi mặt. Không có cơ sở chứng minh bà Kim Liên không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con. Xuất phát từ lợi ích mọi mặt và phù hợp với tâm sinh lý của cháu bé, theo Điều 58 và 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014, có căn cứ để chấp nhận nguyện vọng của bà ĐẶNG THỊ KIM L là giao con cho bà tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng con chung.
Tuy nhiên ông HUỲNH VĂN T vẫn được quyền tới lui thăm con theo qui định của pháp luật, không ai được ngăn cản.
[5] Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: mặc dù đã được giải thích vấn đề cấp dưỡng là quyền lợi của con chung chứ không phải của người nuôi con nhưng bà Kim Liên vẫn không yêu cầu. Xét đây là tự nguyện thỏa thuận của đương sự, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên chấp nhận. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung không được đặt ra giải quyết do đương sự không yêu cầu.
[6] Về tài sản và nợ chung: Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn xác định không có và không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không điều chỉnh.
Vì các lẽ trên.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG
- Căn cứ Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
- Căn cứ Điều 28, 35, 147, 228, 235, 264, 267, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH
- Chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.
Cho bà ĐẶNG THỊ KIM L được ly hôn với ông HUỲNH VĂN T .
- Về con chung: giao cháu Đặng Minh Hiếu (nam) sinh ngày 16/4/2010 cho bà ĐẶNG THỊ KIM L tiếp tục nuôi dưỡng.
Không đặt vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung cho ông HUỲNH VĂN T.
Dành quyền thăm nom con chung cho ông HUỲNH VĂN T theo qui định của pháp luật.
- Về tài sản và nợ chung: không có và không yêu cầu nên không điều chỉnh. Nếu sau này phát sinh và các bên có yêu cầu thì sẽ được tách ra thành vụ kiện khác để giải quyết theo qui định của pháp luật.
- Về án phí: Bà ĐẶNG THỊ KIM L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0003272 ngày 22/02/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự Q. Cái Răng. Bà Kim Liên đã nộp xong án phí hôn nhân sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bà ĐẶNG THỊ KIM L được quyền kháng cáo và kể từ ngày bản án được niêm yết tại trụ sở UBND phường Phú Thứ, nơi cư trú hoặc từ khi nhận được bản án ông HUỲNH VĂN T được quyền kháng cáo để xin Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Mỹ Nhung |
Bản án số 55/2024/HNGĐ-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về xin ly hôn
- Số bản án: 55/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà L xin ly hôn với ông T
