|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 55/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 24-4-2024
V/v tranh chấp về ly hôn, chia tài sản
khi ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Quyền Trân
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Đông Hà
- Bà Trần Thị Bé Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Điền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.
Trong ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 289/2023/TLST-HNGĐ, ngày 20 tháng 10 năm 2023 về “tranh chấp về ly hôn, chia tài sản khi ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Đinh Văn L, sinh năm 1999; nơi cư trú: Ấp V, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang (đề nghị xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Ngân B, sinh năm 2003; nơi thường trú: Ấp V, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang; nơi ở hiện tại: Ấp D, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang (có mặt)
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn về chia tài sản khi ly hôn: Ông Đinh Văn L1, sinh năm 1966; nơi cư trú: Ấp V, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Đinh Văn L trình bày:
- Về hôn nhân: Anh với chị Nguyễn Thị Ngân B tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới vào ngày 19/12/2022 âm lịch (nhằm ngày 10/01/2023 dương lịch), đến ngày 14/3/2023 thì thực hiện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang. Sau khi tổ chức lễ cưới thì anh chị chung sống hạnh phúc tại nhà của anh cho đến ngày 29/4/2023 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, hai bên gia đình cũng xảy ra mâu thuẫn nên vợ chồng anh chị đã sống riêng từ đó cho đến nay. Nhận thấy vợ chồng không thể hàn gắn tình cảm nên anh yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Thị Ngân B.
- Về con chung: Anh và chị Nguyễn Thị Ngân B không có con chung.
- Về tài sản chung: Ngày 19/12/2022 (âm lịch) thì anh chị được cha mẹ hai bên tổ chức đám cưới và cha mẹ của anh đã cho anh và chị Nguyễn Thị Ngân B là 10 chỉ vàng 24K và 05 chỉ vàng 18K. Toàn bộ số vàng cưới này đều do chị B cất giữ. Khi nộp đơn ly hôn anh không yêu cầu giải quyết mà để anh chị tự thoả thuận. Sau đó, do không thoả thuận được nên ngày 15/02/2024 anh L nộp đơn yêu cầu chia tài sản chung với chị B, cụ thể: Anh L yêu cầu chị B trả lại toàn bộ số vàng cưới là 10 chỉ vàng 24K và 05 chỉ vàng 18K; Anh và chị B không có nợ chung.
Ngày 07/3/2024 anh L nộp đơn đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt anh trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Đồng thời anh cũng nộp giấy uỷ quyền cùng ngày về việc anh uỷ quyền cho ông Đinh Văn L1 thay mặt anh giải quyết chia tài sản chung với chị B.
Tại phiên toà, ông Đinh Văn L1 trình bày: Phía nguyên đơn đồng ý chia đôi số vàng cưới với bên bị đơn.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn chị Nguyễn Thị Ngân B trình bày:
- Về hôn nhân: Hôn nhân của chị với anh Đinh Văn L trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Sau khi cưới anh chị sinh sống tại nhà chồng được hơn 04 tháng thì xảy ra mâu thuẫn nên chị về nhà mẹ đẻ sinh sống cho tới nay. Nay mâu thuẫn đã trầm trọng, vợ chồng không thể hàn gắn nên chị đồng ý ly hôn.
- Về con chung: Chị và anh Đinh Văn L không có con chung.
- Về tài sản chung: Vào ngày tổ chức lễ cưới, cha mẹ chồng đã cho hai vợ chồng anh chị là 10 chỉ vàng 24K và gần 05 chỉ vàng 18K (nhưng chị thống nhất là 05 chỉ vàng 18K), tất cả đều là vàng nữ trang và do chị đang cất giữ. Khi ly hôn chị đồng ý chia đôi số vàng cưới này với anh L, cụ thể mỗi bên nhận 05 chỉ vàng 24K và 2,5 chỉ vàng 18K và chị sẽ giao trả cho anh L phần vàng của anh L; Về nợ chung không có.
Các tình tiết mà các bên đã thống nhất: Anh L yêu cầu ly hôn, chị B đồng ý ly hôn; Không có con chung; Tài sản chung là 10 chỉ vàng 24K (vàng nữ trang 99%) và 05 chỉ vàng 18K (vàng nữ trang 75%), người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và bị đơn thống nhất chia đôi; Không có nợ chung.
Các tình tiết mà các bên không thống nhất: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Áp dụng pháp luật về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền, quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với bị đơn, yêu cầu chia tài sản khi ly hôn. Bị đơn đang cư trú trên địa bàn huyện V, tỉnh Hậu Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ tranh chấp thuộc trường hợp “Tranh chấp về ly hôn, chia tài sản khi ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.
[1.2] Về xét xử vắng mặt đương sự: Đối với nguyên đơn có yêu cầu Toà án giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, để xét xử vắng mặt nguyên đơn.
[1.3] Về thủ tục uỷ quyền: Ngày 07/3/2024, nguyên đơn nộp văn bản uỷ quyền với nội dung uỷ quyền cho ông Đinh Văn L1 thay mặt cho nguyên đơn tham gia tố tụng để giải quyết về chia tài sản khi ly hôn với bị đơn. Việc uỷ quyền này là phù hợp quy định pháp luật nên Toà án chấp nhận.
[2] Áp dụng pháp luật về nội dung: Vào ngày 19/12/2022 âm lịch (nhằm ngày 10/01/2023 dương lịch) nguyên đơn và bị đơn tổ chức đám cưới, đến ngày 14/3/2023 nguyên đơn và bị đơn đăng ký kết hôn nên áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết tranh chấp.
[3] Về hôn nhân: Nguyên đơn anh Đinh Văn L với bị đơn chị Nguyễn Thị Ngân B đăng ký kết hôn vào ngày 14/3/2023, tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang. Thời điểm anh chị đăng ký kết hôn, thì anh chị đã đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình nên hôn nhân giữa anh chị được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nên anh chị đã ly thân. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành hoà giải nhưng không thể hoà giải được, anh L vắng mặt nhưng có văn bản ý kiến giữ nguyên yêu cầu ly hôn với chị B. Phía chị B cũng đồng ý ly hôn. Như vậy, từ khi xảy ra mâu thuẫn cho đến nay là một thời gian dài, các bên không có thiện chí khắc phục mâu thuẫn để xây dựng hạnh phúc gia đình. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu ly hôn của anh Đinh Văn L là có căn cứ.
[4] Về con chung: Anh Đinh Văn L với chị Nguyễn Thị Ngân B không có con chung nên không xem xét.
[5] Về tài sản chung và nợ chung:
[5.1] Về tài sản chung: Anh Đinh Văn L với chị Nguyễn Thị Ngân B đều thừa nhận vào ngày tổ chức lễ cưới được cha mẹ của anh L tặng cho chung anh chị là 10 chỉ vàng 24K và 05 chỉ vàng 18K, tất cả đều là vàng nữ trang và do chị B đang quản lý cất giữ. Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và bị đơn thống nhất chia đôi số vàng cưới này nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận;
[5.2] Về nợ chung: Anh Đinh Văn L với chị Nguyễn Thị Ngân B không có nợ chung nên không xem xét.
[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
[6.1] Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định.
[6.2] Nguyên đơn và bị đơn phải chịu án phí chia tài sản theo quy định.
[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 5, Điều 6, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 91, 92, 147, 228, 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 8, 9, 51, 56, 57, 33, 59 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho anh Đinh Văn L với chị Nguyễn Thị Ngân B được ly hôn.
- Về con chung không có.
- Về tài sản chung và nợ chung:
- Về tài sản chung: Công nhận sự thoả thuận giữa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và bị đơn về tài sản chung là 10 chỉ vàng 24K (vàng nữ trang 99%) và 05 chỉ vàng 18K (vàng nữ trang 75%), hai bên thống nhất chia đôi như sau:
- + Chị Nguyễn Thị Ngân B được chia 05 chỉ vàng 24K (vàng nữ trang 99%) và 2,5 chỉ vàng 18K (vàng nữ trang 75%), số vàng này do chị Nguyễn Thị Ngân B đang quản lý.
- + Anh Đinh Văn L được chia 05 chỉ vàng 24K (vàng nữ trang 99%) và 2,5 chỉ vàng 18K (vàng nữ trang 75%). Chị Nguyễn Thị Ngân B có nghĩa vụ giao trả 05 chỉ vàng 24K (vàng nữ trang 99%) và 2,5 chỉ vàng 18K (vàng nữ trang 75%) cho anh Đinh Văn L. Việc giao nhận vàng được thực hiện tại Cơ quan Thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Hậu Giang.
- Về nợ chung không có.
- Về tài sản chung: Công nhận sự thoả thuận giữa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và bị đơn về tài sản chung là 10 chỉ vàng 24K (vàng nữ trang 99%) và 05 chỉ vàng 18K (vàng nữ trang 75%), hai bên thống nhất chia đôi như sau:
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:
- Án phí ly hôn: Nguyên đơn phải nộp số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008291 ngày 20/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang thành án phí, nguyên đơn không phải nộp thêm.
- Án phí chia tài sản:
- - Nguyên đơn phải nộp số tiền là 2.497.875 đồng (hai triệu bốn trăm chín mươi bảy nghìn tám trăm bảy mươi lăm đồng) được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.127.000 đồng (hai triệu một trăm hai mươi bảy nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008531 ngày 16/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang thành án phí, nguyên đơn phải nộp thêm số tiền là 370.875 đồng (ba trăm bảy mươi nghìn tám trăm bảy mươi lăm đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.
- - Bị đơn phải nộp số tiền là 2.497.875 đồng (hai triệu bốn trăm chín mươi bảy nghìn tám trăm bảy mươi lăm đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.
- Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại Trụ sở ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Quyền Trân |
Bản án số 55/2024/HNGĐ-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp về ly hôn, chia tài sản khi ly hôn
- Số bản án: 55/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn, chia tài sản khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
