|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số:55/2024/HNGĐ-ST Ngày: 20-8-2024 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Nhật Trường.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Đinh Đắc Tư
- Bà Đoàn Sơn Lâm
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thạch – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Lễ - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 164/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 44/2024/QĐST-DS, ngày 07 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Đặng Thị Tuyết M, sinh năm 2000 (Xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện V, TP Cần Thơ.
Bị đơn: Ông Võ Văn H, sinh năm 1970 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện V, TP Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Đặng Thị Tuyết M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà M và ông H sống chung như vợ chồng không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc sau một thời gian vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông H không lo chí thú làm ăn, cứ lo ăn chơi, không quan tâm vợ con bà M cũng cho ông H cơ hội sửa đổi nhưng vẫn không thay đổi nên cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, vợ chồng không thể tiếp tục sống chung và bà M không còn tình cảm với ông H nên bà M khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với ông H.
Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Ông H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp; quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn không có ý kiến và không có mặt để dự phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến nay là đúng theo quy định pháp luật, đồng thời phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau: Không công nhận bà M với ông H là vợ chồng. Về con chung: Không có nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bà M có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Ông H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn không có mặt để dự phiên tòa. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà M và ông H theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà M yêu cầu ly hôn với bị đơn ông H nên xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp xin ly hôn. Do bị đơn ông H có nơi thường trú tại huyện V nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh theo quy định tại các Điều 28, 35 và 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị Tuyết M và ông Võ Văn H tự nguyện về chung sống vào năm 2020 không thực hiện việc đăng ký kết hôn. Bà M xác định vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu. Sau đó đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn do ông H không lo chí thú làm ăn, cứ lo ăn chơi nên cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc và đã ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Vì vậy, bà M xác định mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, vợ chồng không thế tiếp tục sống chung nên bà yêu cầu xin ly hôn với ông H. Trong thời gian ly thân ông H và bà M cũng không có biện pháp cụ thể nào để hàn gắn quan hệ vợ chồng và ông H cũng không có ý kiến gì để phản đối yêu cầu ly hôn của bà M. Hơn nữa, bà M vẫn cương quyết xin ly hôn với ông H. Nay nhận thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà M có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết, cho ly hôn với ông H. Quan hệ hôn nhân giữa bà M và ông H là quan hệ hôn nhân không hợp pháp do không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, vì vậy cần căn cứ vào Điều 9 khoản 1 Điều 14, khoản 1 Điều 51, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết 35/2000/NQ - QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội. Nên pháp luật không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà M và ông H.
[4] Về con chung: Không có nên không xem xét giải quyết.
[5] Về tài sản chung: Bà M xác định không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6] Về nợ chung: Bà M xác định không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[7] Về án phí: Bà Đặng Thị Tuyết M phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
[8] Xét lời phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và của người tham gia tố tụng cũng như ý kiến về việc giải quyết vụ án là có căn cứ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 9 khoản 1 Điều 14, khoản 1 Điều 51, Nghị quyết 35/2000/NQ - QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Đặng Thị Tuyết M và ông Võ Văn H là vợ chồng.
3. Về án phí: Bà Đặng Thị Tuyết M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Bà M đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo hai biên lai thu số 0006956 ngày 26/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ. Vậy bà M đã thi hành xong án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Bà M và ông H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo trình tự thủ tục phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Đặng Nhật Trường |
Bản án số 55/2024/HNGĐ-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 55/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử: 1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Đặng Thị Tuyết M và ông Võ Văn H là vợ chồng. 3. Về án phí: Bà Đặng Thị Tuyết M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Bà M đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo hai biên lai thu số 0006956 ngày 26/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ. Vậy bà M đã thi hành xong án phí. 4. Về quyền kháng cáo: Bà M và ông H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo trình tự thủ tục phúc thẩm.
