Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẮC TÂN UYÊN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2024/HS-ST

Ngày: 20-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Huế.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Trọng Tình

Ông Bồ Quốc Khánh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Mỹ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên tham gia phiên tòa: Ông Võ Hữu Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 68/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Võ Việt T (tên gọi khác: Không), sinh năm 1998, tại tỉnh Kiên Giang; nơi đăng ký thường trú: Ấp N, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn Đ, sinh năm 1972 và bà Huỳnh Việt N, sinh năm 1974; bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/4/2024 đến nay. Bị cáo có mặt.

Bị hại: Nguyễn Thị Hồng B, sinh năm 2004; địa chỉ: Nhà cho thuê Vũ Đức C, ấp T, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Võ Việt T có quan hệ tình cảm (yêu đương) với Nguyễn Thị Hồng B. Trong thời gian yêu nhau, T dùng điện thoại của mình chụp lén những hình ảnh khỏa thân của B rồi lưu trong điện thoại.

Từ tháng 01/2024 đến ngày 12/4/2024, B và T phát sinh mâu thuẫn nên chia tay nhau. Sau đó, T yêu cầu B tiếp tục làm người yêu của T nhưng B không đồng ý. Thoại gửi 02 hình ảnh khỏa thân của B mà T đã chụp lén, đe dọa sẽ gửi cho cha mẹ, người thân của B để B tiếp tục làm người yêu nhưng B vẫn không đồng ý. Do vậy, T nảy sinh ý định dùng hình ảnh của B để đe dọa chiếm đoạt tiền. Thoại sử dụng điện thoại (thông qua ứng dụng M) nhắn tin yêu cầu B đưa cho T 7.500.000 đồng thì sẽ xóa các hình ảnh trên, nếu không sẽ gửi các hình ảnh cho người nhà của B nên B đồng ý. Thoại và B hẹn gặp nhau tại khu vực siêu thị B1 xanh ở ấp T, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Dương để B đưa tiền cho T rồi T đưa điện thoại để Băng xóa hết hình ảnh khỏa thân của B lưu trong điện thoại. Đến khoảng 21 giờ 00 phút, ngày 19/4/2024, T điều khiển xe mô tô biển số 68N1-285.29 đến gặp B tại điểm hẹn. Băng đưa T 7.500.000 đồng, T đưa điện thoại cho B để xóa hình ảnh thì bị Công an xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Dương bắt quả tang.

* Đồ vật, tài sản bị tạm giữ gồm: 7.500.000 đồng là tiền B đưa cho T; 01 điện thoại di động (ĐTDĐ) nhãn hiệu iphone 13 Pro Max màu xanh của Băng; 01 ĐTDĐ, nhãn hiệu iphone 14 Pro max màu vàng và 01 xe mô tô biển số 68N1 – 285.29 nhãn hiệu Honda loại xe Wave màu xanh của Võ Việt T. 7.500.000 đồng và 01 ĐTDĐ iphone 13 Pro Max là tài sản của B nên Cơ quan Cảnh sát điều tra (CQCSĐT) Công an huyện B đã trả cho B.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Hồng B không yêu cầu.

Cáo trạng số 64/CT-VKS-BTU ngày 24/7/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên truy tố Võ Việt T về “Tội cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 170, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Võ Việt T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 ĐTDĐ nhãn hiệu iphone 14 Pro max và 01 xe mô tô biển số 68N1 – 285.29 của Võ Việt T là phương tiện được T sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Về trách nhiệm dân sự, bị hại không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố; nhận thấy hành vi này là vi phạm pháp luật; tỏ ra ăn năn, hối hận về hành vi đã gây ra. Khi nói lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, trở về đoàn tụ gia đình, làm công dân tốt cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của CQCSĐT Công an huyện B, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng huyện B đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; có đủ cơ sở kết luận: Ngày 19/4/2024, tại xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Dương, Võ Việt T sử dụng điện thoại di động nhắn tin đe dọa, uy hiếp tinh thần Nguyễn Thị Hồng B, buộc B phải đưa cho T 7.500.000 đồng, nếu không thì T sẽ gửi các hình ảnh Băng khỏa thân cho người thân của B. Khi T đang nhận tiền từ Băng thì T bị lực lượng Công an xã Đ phát hiện, bắt giữ. Do đó, Cáo trạng số 64/CT-VKS-BTU ngày 24/7/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản, danh dự, nhân phẩm, tinh thần, hình ảnh cá nhân của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Về nhận thức, bị cáo hoàn toàn có khả năng nhận biết hành vi cưỡng đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật nhưng vì muốn kiếm tiền nhanh chóng để phục vụ nhu cầu bản thân mà không phải lao động nên bị cáo cố tình thực hiện.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; Bị hại có đơn bãi nại, đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Bị cáo có bà ngoại là Nguyễn Việt D có công với cách mạng được tặng huân chương kháng chiến hạng ba, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[6] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt trước khi thực hiện hành vi phạm tội.

[7] Hình phạt chính: Bị cáo phạm tội nghiêm trọng. Bị cáo là đàn ông cố ý ghi lại những hình ảnh cá nhân người từng thương yêu, đặc biệt là phụ nữ để “tống tiền” là hành vi bị xã hội lên án. Do đó, việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, đủ để trừng phạt, cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

[8] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”. Xét thấy, bị cáo hiện không có việc làm, việc áp dụng hình phạt tù cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Hồng B không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: 01 ĐTDĐ nhãn hiệu iphone 14 Pro max màu vàng và 01 xe mô tô biển số 68N1 – 285.29 nhãn hiệu Honda loại xe Wave màu xanh của Võ Việt T là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi cưỡng đoạt tài sản nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước; 7.500.000 đồng là tiền B đưa cho Võ Việt T; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max màu xanh là tài sản của bị hại nên CQCSĐT trả cho bị hại là đúng.

[11] Xét thấy, mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[12] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 170, điểm s khoản 1 và 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106, khoản 2 Điều 136, khoản 1, 4 Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Võ Việt T phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Võ Việt T 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/4/2024.
  3. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 Điện thoại di động nhãn hiệu iphone 14 Pro max màu vàng và 01 xe mô tô biển số 68N1 – 285.29 nhãn hiệu Honda loại xe Wave màu xanh của Võ Việt T. (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương).
  4. Án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo Võ Việt T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương (01);
  • - VKSND tỉnh Bình Dương (01);
  • - PV06, Công an tỉnh Bình Dương (01);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương (01);
  • - VKSND huyện Bắc Tân Uyên (01);
  • - Công an huyện Bắc Tân Uyên (01);
  • - Chi cục THADS huyện Bắc Tân Uyên;
  • - Người tham gia tố tụng (07);
  • - Lưu: HS, VT (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Bích Huế

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2024/HS-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự - cưỡng đoạt tài sản

  • Số bản án: 55/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cưỡng đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án hình sự về tội cưỡng đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 170 BLHS 2015
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger