Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THOẠI SƠN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2024/HS-ST

Ngày 20 tháng 6 năm 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN,TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triều.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức và ông Ngô Thanh Ngọc Cảnh

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hữu - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

1/ Đặng Văn P, sinh ngày 20/6/1985. Nơi cư trú: khóm P, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn K, sinh năm 1939 và bà Phan Thị P1, sinh năm 1950; anh, chị em có 05 người, bị cáo là người thứ tư; sống chung như vợ chồng với Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1983; con có hai người, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/3/2024 đến ngày 21/3/2024 tạm giam cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2/ Danh Nam, sinh ngày 15/10/1986. Nơi cư trú: ấp A, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Danh Đ, sinh năm 1952 và bà Thị C, sinh năm 1953; anh, chị, em có 05 người, bị cáo là người thứ năm; vợ tên Đoàn Thị H, sinh năm 1996, đã ly hôn; con tên Danh Chí N, sinh năm 2015.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/3/2024 đến ngày 21/3/2024 tạm giam cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3/ Lại Vũ H1, sinh ngày 06/7/1996. Nơi cư trú: ấp H, xã V, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lại Thanh D, sinh năm 1974 và bà Võ Hồng T1, sinh năm 1974; anh, chị, em có hai người, bị cáo là người thứ hai; bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/3/2024 đến ngày 21/3/2024 tạm giam cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

4/ Võ Minh T2 (T) sinh ngày 13/8/1997. Nơi cư trú: khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Thành P2, sinh năm 1979 và bà Nguyễn Thị Bích T3, sinh năm 1980; anh, chị, em có 02 người, bị cáo là người thứ nhất; vợ tên Trương Võ Anh T4, sinh năm 2000; con tên Võ Trương Minh K1, sinh năm 2021.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/3/2024 đến ngày 21/3/2024 tạm giam cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

5/ Nguyễn Thanh T5 (D1), sinh ngày 01/01/2003. Nơi cư trú: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị R, sinh năm 1973; anh, chị, em có 06 người, bị cáo là người thứ tư; bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/3/2024 đến ngày 21/3/2024 tạm giam cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Anh Bùi Văn V, sinh năm 1983. Nơi cư trú: số 28, N, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

2/ Chị Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1983. Nơi cư trú: ấp Đ, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).

3/ Anh Ngô Ngọc L, sinh năm 1988. Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).

4/ Anh Võ Hoàng A, sinh ngày 18/12/2004. Nơi cư trú: ấp B, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt).

Người làm chứng:

1/ Bà Lê Thị N1, sinh năm 1968 (vắng mặt).

2/ Anh Trần Kinh L1, sinh năm 1996 (vắng mặt).

3/ Anh Nguyễn Văn T6, sinh năm 1997 (vắng mặt).

Người phiên dịch tiếng Khmer cho bị cáo Danh N2: Ông Liêu K2, cán bộ hưu trí thị trấn O, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 19 giờ ngày 11/03/2024, Đặng Văn P uống bia cùng hai người bạn tên H1, H2 đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì nghỉ, P điều khiển xe ô tô biển số 67A-070.73 về nhà trên đường T, khi đến khu vực cầu M thuộc thị trấn P, huyện T, Bùi Văn V điều khiển xe ô tô tải biển số 60C-385.00 chạy từ phía sau vượt lên, lớn tiếng yêu cầu P chạy đúng làn đường, P không nghe rõ nghĩ mình bị V có lời lẽ xúc phạm nên P điện thoại cho D2 Nam là (nhân viên quán Karaoke của P) biết việc P bị bắt nạt, đồng thời Phố kêu N2 cho Võ Minh T2, Lại Vũ H1, Nguyễn Thanh T5 biết lấy hung khí tiếp P chặn xe của V để hỏi rõ sự việc. N2, H1, Trí T7 đồng ý, H1 lấy 01 ống tuýp sắt dài 50cm và 01 cây gỗ vuông, kích thước (126 x 5.5)cm cùng N2, T2, T7 chạy ra đường T, Nam dẫn xe mô tô biển số 67M7-9881 dựng xe chắn ngang làn đường, P dừng xe giữa đường theo hướng P - L, được khoảng 10 phút không thấy xe của Vĩnh tới, khi H1 dẫn xe mô tô vào lề đường thì V chạy qua, P liền điều khiển xe ô tô, T7 điều khiển xe mô tô biển số 67AA-228.70 chở T2 ngồi sau cầm khúc gỗ, H1 điều khiển xe mô tô biển số 67M7-9881 chở N2 ngồi sau cầm ống tuýp sắt đuổi theo khoảng 200m, xe của P vượt lên chặn trước đầu không cho xe Vĩnh di chuyển, V ra khỏi xe nói chuyện với P dẫn đến cự cải, thách thức nhau. Tức giận P dùng tay đánh V, còn N2 cầm tuýp sắt đánh 01 cái trúng vào người V làm rơi tuýp sắt xuống đường, P nhặt tuýp sắt đánh tiếp nhiều cái trúng vào người V; T2 cầm khúc gỗ vuông đập vỡ kính chiếu hậu bên trái xe ô tô của V. Khi này, thấy V bị chảy máu nên cả nhóm dừng lại bỏ về quán. Riêng, V đến Công an thị trấn P trình báo và đến Bệnh viện Đ1 điều trị, ngày 12/3/2024 thì xuất viện.

Ngày 15/3/2024, Nguyễn Thị Thanh T (vợ của P) bồi thường cho V 80.000.000 đồng nên V có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự và từ chối giám định.

Ngày 12/3/2024, việc nhóm của P chặn xe của V trên đường T đuổi đánh V đã làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, Ủy ban nhân dân thị trấn P có Công văn số 15, đề nghị xử lý các đối tượng có hành vi gây rối trật tự công cộng vào ngày 11/3/2024 tại khu vực đường T để đảm bảo tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Vật chứng thu giữ: Đoạn video ghi cảnh nhóm Phố đuổi đánh V; nhiều mãnh vỡ kính và nhiều mãnh vỡ nhựa màu đen; ống tuýp bằng kim loại màu bạc dài 50cm; khúc gỗ vuông kích thước (126 x 5.5) cm; áo sơ mi tay ngắn, sọc ca rô màu đỏ, phía trước túi áo có logo cá sấu màu xanh viền; quần Jean dài màu xanh, lo go màu nâu có chữ LEVEL TRAUSS & CO; xe ô tô biển số 67A-070.73, nhãn hiệu Toyota, loại Fortuner, số máy 2TRA325613, màu sơn nâu; điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12Pro Max, số seri G6TDQ9CL0D42, có gắn sim số 0944.111.070; điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6s Plus, màu vàng, sim số 0971.111.070, số seri F2LRJ3DHGRWM, IMEI số 355735072428214; điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy N 20 Ultra, màu xám, gắn sim số 0354.255.168, số seri R58RC3F81GK, IMEI 1: 352682505795723, IMEI 2: 359646205795724; xe mô tô biển số 67M7-9881, nhãn hiệu Honda, số loại Air Blade, màu Đen, số khung 528290; điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A23, màu xám, số seri R58TC059LPK có gắn sim số 0869200541; điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A50S, màu xanh, số seri R58MB4Y84MT, bên trong có gắn sim Vinaphone số 0828.676.xxx; xe mô tô biển số 67AA-228.70 nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha; số khung RLHJA3934RY029189, số máy JA70E0299781; một điện thoại di động hiệu VSMART, màu trắng, đen, số seri BGW00057256, có gắn sim số 0372051582.

Ngày 26/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã trả lại xe ô tô tải biển số 60C-385.00 cho Bùi Văn V.

Tại Bản Kết luận giám định số 414 ngày 31/3/2024 của Phòng K3 - Công an tỉnh A, xác định: Trích xuất 65 ảnh từ dữ liệu 04 tập tin video lưu trữ trong đĩa DVD do Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T gửi giám định, chi tiết thể hiện trong phụ lục kèm theo.

Kết luận giám định tài sản số 21 ngày 29/3/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, xác định: 01 kính chiếu hậu trái của xe ô tô tải Isuzu, loại QKR55H, loại xe tải có mui, dung tích 27712, biển số 60C-385.00, trị giá 475.000 đồng.

Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 192 ngày 12/3/2024, của Trung tâm pháp y - tỉnh A, ghi nhận thương tích của Bùi Văn V, sinh năm 1983

Các kết quả chính: Vết thương chưa liền sẹo vùng chẩm trái, kích thước (1.3 x 0.2cm) là vết thương có kích thước nhỏ, tỷ lệ 01%; vết thương chưa liền sẹo mặt sau khuỷu tay trái, kích thước (1.3 x 0.2)cm, là vết thương có kích thước nhỏ, tỷ lệ 01%; các thương tích còn lại hiện tại chưa ổn định, nên chưa thể xác định được tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.

Kết luận, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể gây nên tại thời điểm giám định là 02%, do vật tày gây nên.

Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 192BS ngày 26/3/2024, của Trung tâm pháp y - tỉnh A, ghi nhận thương tích của Bùi Văn V, sinh năm 1983

Các kết quả chính: Bầm mi trên, xuất huyết kết mạc mắt phải; phù nề vùng mũi; xây xát da dạng mảng vùng má trái; vết ửng đỏ da vùng ngực phải - trái; bầm máu vùng hông lưng trái; xây xát dạng mảng mặt trong 1/3 giữa đùi trái, hiện tại tất cả đều không để lại thương tích, tỷ lệ 00%;

Xây xát da dạng mảng mặt sau 1/3 dưới cánh tay phải để lại sẹo, kích thước (01 x 0.2)cm, là sẹo có kích thước nhỏ, tỷ lệ 01%; xây xát dạng mảng mặt trước trong gối phải đến 1/3 trên cẳng tay phải để lại sẹo, kích thước (02 x 0.3)cm là sẹo có kích thước nhỏ, tỷ lệ 01%.

Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể (bổ sung) do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 02%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại Bản kết luận số 192 ngày 12/3/2024 là 02%.

Căn cứ bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 192 ngày 12/3/2024 và kết luận giám định bổ sung trên, tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên hiện tại là 04%, do vật tày gây nên.

Tại Cáo trạng số 43/CT-VKSTS-HS ngày 19/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang đã truy tố các bị cáo Đặng Văn P, D, Lại Vũ H1, Võ Minh T2 (Trí A1), Nguyễn Thanh T5 (D1) về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo Đặng Văn P, D, Lại Vũ H1, Võ Minh T2, Nguyễn Thanh T5 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, các bị cáo Đặng Văn P, D, Lại Vũ H1, Võ Minh T2, Nguyễn Thanh T5 vẫn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trên, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng đều khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Văn V nêu quan điểm sau khi vụ án xảy ra đã nhận đủ số tiền 80.000.000 đồng bồi thường của gia đình bị cáo P và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Đại diện Viện Kiểm sát luận tội đối với các bị cáo giữ nguyên truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Đặng Văn P từ 02 năm đến 03 năm tù, xử phạt bị cáo Danh N2 từ 02 năm đến 03 năm tù, xử phạt bị cáo Lại Vũ H1 từ 02 năm đến 03 năm tù, xử phạt bị cáo Võ Minh T2 từ 02 năm đến 03 năm tù, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T5 từ 02 năm đến 03 năm tù. Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý theo quy định pháp luật.

Các bị cáo Đặng Văn P, D, Lại Vũ H1, Võ Minh T2, Nguyễn Thanh T5 không tranh luận với Kiểm sát viên. Các bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình và ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt không rõ lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy sau khi vụ án xảy ra; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã có lời khai trong quá trình điều tra, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai của họ trước tòa. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, mục đích, động cơ phạm tội và các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 22 giờ ngày 11/03/2024, sau khi uống bia cùng với hai người bạn, Đặng Văn P điều khiển xe ô tô biển số 67A-070.73 về nhà. Trên đường về, Phố gặp Bùi Văn V điều khiển xe ô tô tải biển số 60C-385.00 chạy từ phía sau vượt lên, lớn tiếng yêu cầu P chạy đúng làn đường, nên dẫn đến mâu thuẩn. Phố điện thoại cho Danh N2, đồng thời kêu N2 cho Võ Minh T2, Lại Vũ H1, Nguyễn Thanh T5 biết lấy hung khí tiếp P chặn xe của V để hỏi rõ sự việc. N2, H1, T2, T5 đồng ý lấy 01 ống tuýp sắt dài 50cm và 01 cây gỗ vuông, kích thước (126 x 5.5)cm cùng Phố chắn ngang làn đường Tỉnh lộ 943, V ra khỏi xe nói chuyện với P dẫn đến cự cải, thách thức nhau. Tức giận P dùng tay đánh V, còn N2 cầm tuýp sắt đánh 01 cái trúng vào người V làm rơi tuýp sắt xuống đường, P nhặt tuýp sắt đánh tiếp vào người V gây thương tích 4%, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Hành vi nêu trên của các bị cáo Đặng Văn P, D, Lại Vũ H1, Võ Minh T2, Nguyễn Thanh T5 đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”, thuộc trường hợp dùng hung khí. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015, có khung hình phạt tù từ 02 đến 07 năm.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an ninh trật tự, an toàn xã hội ở nơi công cộng, làm cho quần chúng nhân dân lên án và bất bình.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Các bị cáo trước khi phạm tội là những người có nhân thân tốt vì chưa có tiền án, tiền sự. Nhưng hành vi của các bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý; động cơ, mục đích của tội phạm là gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Đây là vụ án đồng phạm, nhưng thuộc trường hợp giản đơn; mặc dù các bị cáo không có sự phân công, bàn bạc trước, song tiếp nhận ý chí của nhau và cùng thực hiện hành vi phạm tội. Trong đó bị cáo Đặng Văn P với vai trò chính trong vụ án cùng các bị cáo N2, H1, T2, T5 đi xe ô tô, xe máy dùng ống tuýp sắt, cây gỗ vuông chạy đuổi và đánh anh Bùi Văn V thương tích tỷ lệ 4%, gây mất trật tự công cộng tại địa bàn huyện T, do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự chính trong vụ án và cao hơn các bị cáo khác.

Đối với bị cáo Danh N2, Lại Vũ H1, Võ Minh T2, Nguyễn Thanh T5 khi được bị cáo P điện thoại cho hay việc P bị bắt nạt, đồng thời Phố kêu N2 cho Võ Minh T2, Lại Vũ H1, Nguyễn Thanh T5 biết lấy hung khí tiếp P chặn xe của V để hỏi rõ sự việc thì các bị cáo đồng ý ngay cùng lấy ống tuýp sắt, cây gỗ vuông gây thương tích cho anh Vĩnh 4, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, làm quần chúng nhân dân bất bình. Do vậy, các bị cáo cùng phải chịu trách nhiệm hình sự như nhau, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội các bị cáo đã gây ra.

- Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu; cùng xuất thân thành phần lao động, trong đó bị cáo Danh N2 là người dân tộc nên hiểu biết pháp luật hạn chế, các bị cáo nhất thời phạm tội; tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đối với bị cáo P là lao động chính trong gia đình đang nuôi mẹ già thường xuyên đau ốm, bị cáo được UBND thị trấn P và rất nhiều bà con xung quanh khu vực bị cáo sinh sống xác nhận luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật tại địa phương và làm tốt công tác an sinh xã hội, được tri ân nhiều giấy cảm tạ. Sau khi vụ án xảy ra, gia đình bị cáo P đã bồi thường cho anh V tổng số tiền 80.000.000 đồng và anh V xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo Đặng Văn P, D, Lại Vũ H1, Võ Minh T2 (Trí A1), Nguyễn Thanh T5 (D1) là những người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, nhất thời phạm tội, ngoài lần phạm tội này, các bị cáo chưa từng vi phạm pháp luật. Các bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và việc các bị cáo cải tạo tại địa phương không gây nguy hiểm cho xã hội. Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn như đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa đề nghị mà cho các bị cáo được hưởng án treo cũng đủ có tác dụng giáo dục, cải tạo, răn đe và phòng ngừa tội phạm.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Do người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

[6] Đối với Hành vi Đặng Văn P, D, Lại Vũ H1, Võ Minh T2, Nguyễn Thanh T5 gây thương tích cho Bùi Văn V với tỷ lệ 04%, do anh V có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự và từ chối giám định nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T không xem xét xử lý về tội “Cố ý gây thương tích” là có căn cứ. Ngoài ra, T2 có hành vi sử dụng khúc gỗ vuông đập vỡ kính chiếu hậu bên trái xe ô tô của anh V gây thiệt hại 475.000 đồng là vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với Nhiều mãnh vỡ kính và nhiều mãnh vỡ nhựa màu đen; ống tuýp bằng kim loại màu bạc dài 50cm; khúc gỗ vuông kích thước (126 x 5.5) cm; áo sơ mi tay ngắn, sọc ca rô màu đỏ, phía trước túi áo có logo cá sấu màu xanh viền trắng; quần Jean dài màu xanh, lo go màu nâu có chữ LEVEL TRAUSS & CO không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe ô tô biển số 67A-070.73, nhãn hiệu Toyota, loại Fortuner, số máy 2TRA325613, màu sơn nâu; điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12Pro Max, số seri G6TDQ9CL0D42, có gắn sim số 0944.111.070; điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6s Plus, màu vàng, sim số 0971.111.070, số seri F2LRJ3DHGRWM, IMEI số 355735072428214; điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy N 20 Ultra, màu xám, gắn sim số 0354.255.168, số seri R58RC3F81GK, IMEI 1: 352682505795723, IMEI 2: 359646205795724; xe mô tô biển số 67M7-9881, nhãn hiệu Honda, số loại Air Blade, màu Đen, số khung 528290; điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A23, màu xám, số seri R58TC059LPK có gắn sim số 0869200541; điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A50S, màu xanh, số seri R58MB4Y84MT, bên trong có gắn sim Vinaphone số 0828.676.xxx; xe mô tô biển số 67AA-228.70 nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha; số khung RLHJA3934RY029189, số máy JA70E0299781; một điện thoại di động hiệu VSMART, màu trắng, đen, số seri BGW00057256, có gắn sim số 0372051582. Xét thấy các tài sản này không liên quan đến vụ án, cần tuyên trả lại cho chủ sở hữu.

[8] Về các vấn đề khác: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Đặng Văn P, D, Lại Vũ H1, Võ Minh T2 (T), Nguyễn Thanh T5 (D1) phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Đặng Văn P 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm kể từ ngày tuyên án (ngày 20/6/2024).

Giao bị cáo Đặng Văn P cho Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Đặng Văn P thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Xử phạt bị cáo Danh N2 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm kể từ ngày tuyên án (ngày 20/6/2024).

Giao bị cáo Danh N2 cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Danh N2 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Xử phạt bị cáo Lại Vũ Hoàng 0 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm kể từ ngày tuyên án (ngày 20/6/2024).

Giao bị cáo Lại Vũ H1 cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh An Giang để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo H1 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Xử phạt bị cáo Võ Minh T2 (Trí A1) 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm kể từ ngày tuyên án (ngày 20/6/2024).

Giao bị cáo Võ Minh T2 (T) cho Ủy ban nhân dân phường B, thành phố L, tỉnh An Giang để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo T2 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T5 (D1) 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm kể từ ngày tuyên án (ngày 20/6/2024).

Giao bị cáo Nguyễn Thanh T5 (D1) cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh An Giang để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo T5 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự

Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa cho các bị cáo Đặng Văn P, D, Lại Vũ H1, Võ Minh T2 (T), Nguyễn Thanh T5 (D1) nếu các bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: Nhiều mãnh vỡ kính và nhiều mãnh vỡ nhựa màu đen; 01 (một) ống tuýp bằng kim loại màu bạc dài 50cm; 01 (một) khúc gỗ vuông kích thước (126 x 5.5) cm; 01 (một) áo sơ mi tay ngắn, sọc ca rô màu đỏ, phía trước túi áo có logo cá sấu màu xanh viền trắng; 01 (một) quần Jean dài màu xanh, lo go màu nâu có chữ LEVEL TRAUSS & CO.

- Trả lại cho bị cáo Đặng Văn P 01 (một) xe ô tô biển số 67A-070.73, nhãn hiệu Toyota, loại ô tô con, loại Fortuner, số máy 2TRA325613, màu sơn nâu; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12Pro Max, số seri G6TDQ9CL0D42, có gắn sim số 0944.111.070 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6s Plus, màu vàng, sim số 0971.111.070, số máy A1687, số seri F2LRJ3DHGRWM, IMEI số 355735072428214.

- Trả lại cho bị cáo Danh N2 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 20 Ultra, màu xám, gắn sim số 0354.255.168, số seri R58RC3F81GK, IMEI 1: 352682505795723, IMEI 2: 359646205795724. Trả lại cho bị cáo Lại Vũ Hoàng 01 (một) xe mô tô biển số 67M7-9881, nhãn hiệu Honda, số loại Air Blade, màu sơn: Đen, số khung 528290 và 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A23, màu xám, số seri R58TC059LPK có gắn sim số 0869200541.

- Trả lại cho bị cáo Võ Minh T2 (T) 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A50S, màu xanh, số seri R58MB4Y84MT, bên trong có gắn sim Vinaphone số 0828.676.xxx.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thanh T5 01 (một) điện thoại di động hiệu VSMART, màu trắng, đen, dung lượng 64GB, số seri BGW00057256, có gắn sim số 0372051582.

- Trả lại cho Võ Hoàng A 01 (một) xe mô tô biển số 67AA-228.70 nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha; số khung RLHJA3934RY029189, số máy JA70E0299781 (Tất cả đả qua sử dụng).

(Các vật chứng này hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 30/QĐ-VKSTS ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn).

Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Đặng Văn P, D, Lại Vũ H1, Võ Minh T2 (Trí A1), Nguyễn Thanh T5 (D1) mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

(Đã giải thích chế định án treo đối với các bị cáo)

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp An Giang;
  • - Phòng PV 06 - Công an tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Thoại Sơn;
  • - Cơ quan điều tra CA huyện Thoại Sơn;
  • - Cơ quan THA hình sự huyện Thoại Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Thoại Sơn;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Triều

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2024/HS-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 55/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Văn Phố và đồng phạm phạm tôi Gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger