Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRI TÔN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 55/2023/DS-ST

Ngày: 19 - 12 - 2023

V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chau Dau.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Mai Văn Tài.
  2. Bà Cao Thị Phương Trang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Kim Liệu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Diễm – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 225/2023/TLST-DS ngày 02 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 136/2023/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn:
    1. Ông Trần Văn C, sinh năm 1984 (có mặt)
    2. Bà Lê Thị P, sinh năm 1983 (có mặt)

    Cùng địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh An Giang.

  2. Bị đơn: Bà Trần Thị N, sinh năm 1983 (có mặt)

    Địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 29/6/2023 và quá trình tố tụng tại Tòa án các nguyên đơn ông Trần Văn C, bà Lê Thị P trình bày:

Từ ngày 02/01/2021 dương lịch đến ngày 29/02/2022 âm lịch, vợ chồng ông bà có tham gia 06 dây hụi do bà Trần Thị N làm chủ hụi, mỗi dây hụi bà N có gửi cho ông bà danh sách các hụi viên, tên hụi viên trong danh sách của ông C, bà P để tên là Bích C1. Đến kỳ khui hụi, ông bà đều chầu hụi cho bà N đầy đủ nhưng đến khi ông bà hốt hụi (đa số hốt chót) bà N hoàn toàn không giao tiền hụi cho ông bà được đồng nào, cụ thể như sau:

2

  1. Dây hụi 3.000.000 đồng/1 tháng khui một lần, bắt đầu khui ngày 02/01/2021 gồm 21 phần, ông bà tham gia một phần, chầu được 20 lần, với số tiền được 3.000.000 đồng x 20 lần = 60.000.000 đồng.
  2. Dây hụi 3.000.000 đồng/1 tháng khui một lần, bắt đầu khui ngày 08/3/2021 gồm 20 phần: Ông, bà tham gia một phần, chầu được 19 lần, với số tiền 3.000.000 đồng x 19 lần = 57.000.000 đồng.
  3. Dây hụi 1.000.000 đồng/1 tháng khui một lần, bắt đầu khui ngày 02/01/2021 gồm 28 phần: Ông bà tham gia hai phần, chầu được 19 lần thì bà N tự ý ngưng không tiếp tục khui nữa. Dây hụi này bà N còn phải trả lại cho ông bà với số tiền 1.000.000 đồng x 19 lần x 2 = 38.000.000 đồng.
  4. Dây hụi 300.000 đồng/1 tuần khui một lần, bắt đầu khui ngày 10/02/2022 gồm 43 phần: Ông bà tham gia năm phần, chầu được 38 lần, với số tiền 300.000 đồng x 38 lần x 5 phần = 57.000.000 đồng.
  5. Dây hụi 1.000.000 đồng/1 tháng khui một lần, bắt đầu khui ngày 15/02/2022 âm lịch gồm 20 phần: Ông bà tham gia hai phần, chầu được 13 lần với số tiền 1.000.000 đồng x 13 lần x 2 phần = 26.000.000 đồng.
  6. Dây hụi 300.000 đồng/1 tuần khui một lần, bắt đầu khui ngày 29/02/2022 gồm 40 phần: Ông bà tham gia ba phần, chầu được 32 lần, với số tiền 300.000 đồng x 32 lần x 3 phần = 28.800.000 đồng.

Tổng cộng tiền hụi bà N nợ ông bà là 266.800.000 đồng. Ông bà khởi kiện yêu cầu bà N trả số tiền trên, không yêu cầu tính lãi

Trong quá trình tố tụng ông C, bà P thay đổi yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu bà N trả số tiền 217.300.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Tại bản tự khai ngày 23/11/2023 và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, bị đơn bà Trần Thị N trình bày:

Qua yêu cầu khởi kiện của ông C, bà P yêu cầu bà phải trách nhiệm trả tiền nợ hụi tổng cộng 266.800.000 đồng. Bà thừa nhận bà còn nợ tiền của ông C, bà P, tuy nhiên không phải như số tiền mà ông C, bà P yêu cầu. Giữa bà và bà P, ông C có quan hệ bà là chủ hụi, ông C, bà P là hụi viên. Trước đây bà có khui 06 dậy hụi và bà P, ông C có tham gia chơi hụi, cụ thể như sau:

  1. Dây hụi 3.000.000đ/1 tháng khui 1 lần, bắt đầu khui ngày 02/01/2021 gồm 21 phần, ông C, bà P có tham gia 01 phần, chầu được 19 lần, ông C, bà P hốt chót được 3.000.000 đồng x 19 lần = 57.000.000 đồng – 1.500.000 đồng (huê hồng) = 55.500.000 đồng.
  2. Dây hụi 3.000.000đ/tháng khui 01 lần, bắt đầu khui ngày 08/3/2021 gồm 20 phần: Ông C, bà P tham gia 01 phần, châu được 18 lần, bà P hốt chót được 3.000.000 đ x 18 lần = 54.000.000 đồng – 1.500.000 đồng (huê hồng) = 52.500.000 đồng.
  3. Dây hụi 1.000.000 đồng/1 tháng khui 01 lần, bắt đầu khui ngày 02/01/2021 gồm 28 phần: Ông C, bà P tham gia 02 phần, chầu được 14 lần thì ngưng khui. Như vậy, với số tiền 1.000.000 đồng x 14 lần x 2 phần = 28.000.000 đồng – 1.000.000 đồng (huê hồng) = 27.000.000 đồng.

3

  1. Dây hụi 300.000 đồng/1 tuần khui 1 lần, bắt đầu khui ngày 10/02/2022 gồm 43 phần: Ông C, bà P, tham gia 05 phần, chầu được 33 lần và bà P, ông C hốt được với số tiền 300.000 đồng x 33 lần x 05 phần = 49.500.000 đồng – 750.000 đồng (huê hồng) = 48.750.000 đồng.
  2. Dây hụi 1.000.000 đồng/1 tháng khui 1 lần, bắt đầu khui ngày 15/02/2022 âm lịch gồm 20 phần: Ông C, bà P tham gia 02 phần, chầu được 13 lần và hốt 02 phần vào lần khui thứ 14, 15 với số tiền = 1.000.000 đồng x 13 lần x 02 phần = 26.000.000 đồng và sau khi khấu trừ thì còn lại 9.700.000 đồng.
  3. Dây hụi 300.000 đông/1 tuần khui 1 lần, bắt đầu khui ngày 29/02/2022 gồm 40 phần: Ông C, bà P tham gia 03 phần, chầu được 32 lần, ông C, bà P hốt 03 phần vào lần khui thứ 33; 34 và 35 với số tiền 300.000 đồng x 32 lần x 03 phần = 28.800.000 đồng, sau khi khấu trừ còn lại 23.850.000 đồng.

Như vậy, tổng số tiền bà còn nợ tiền hụi ông C, bà P chỉ 217.300.000 đồng. Tuy nhiên, đây là hụi có lãi, bà xin trả dần tiền vốn là 161.670.000 đồng (tiền thực đóng) và xin không trả lãi. Do hiện nay hoàn cảnh gia đình gặp nhiều khó khăn và các hụi viên khác không chầu đầy đủ cho bà nên bà không có khả năng trả hết số nợ trên một lần.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn ông Trần Văn C, bà Lê Thị P trình bày: Yêu cầu bà Trần Thị N phải có trách nhiệm trả cho ông bà số tiền còn nợ hụi là 217.300.000 đồng, không chấp nhận ý kiến của bà N xin trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng đến hết nợ vốn 161.670.000 đồng và cũng không chấp nhận việc mà N xin bỏ lãi 55.630.000 đồng.

Bị đơn bà Trần Thị N trình bày: Thừa nhận còn nợ tiền hụi của ông C, bà P số tiền nợ hụi 217.300.000 đồng (Sau khi cấn trừ). Bà đồng ý trả số tiền nợ hụi cho ông C, bà P nhưng chỉ xin trả phần tiền vốn mà ông C, bà P đã đóng thực tế 161.670.000 đồng do hụi chơi có lãi và xin trả dần số tiền này mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến hết nợ. Còn phần lãi 55.630.000 đồng bà xin không trả do hoàn cảnh gặp nhiều khó khăn và một số hụi viên chầu không đầy đủ, một số bỏ địa phương đi, một số thì chết trong đợt dịch Covid-19 cho bà nên bà không có khả năng trả phần vốn một và lãi.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.

Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ việc đã tiến hành các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, vẫn còn vi phạm trong việc cấp tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự, tống đạt thông báo thụ lý vụ án cho nguyên đơn, bị đơn quá hạn là 06 ngày vi phạm khoản 1 Điều 196 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

4

Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, về phiên tòa sơ thẩm.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về việc giải quyết vụ án:

Nhận thấy, trong quá trình tham gia hụi ông C, bà P đã chầu hụi đầy đủ theo đúng nghĩa vụ của hụi viên nhưng khi đến kỳ hốt hụi bà N lại không giao hụi đủ số tiền là vi phạm nghĩa vụ của chủ hụi do đó bà N phải có nghĩa vụ trả cho ông C, bà P số tiền 217.300.000 đồng.

Đối với yêu cầu xin trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi hết nợ của bà N không được ông C, bà P chấp nhận nên không xem xét.

Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C, bà P. Buộc bà Trần Thị N có trách nhiệm trả cho ông C, bà P số tiền 217.300.000 đồng.

- Bà N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn trả số tiền nợ phát sinh từ việc tham gia góp hụi giữa các bên nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “tranh chấp hợp đồng góp hụi”. Bị đơn bà Trần Thị N, có địa chỉ cư trú trên địa bàn xã T, huyện T, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang có thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.[2] Về nội dung vụ án:[2.1] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:Xét thấy, nguyên đơn ông Trần Văn C, bà Lê Thị P khởi kiện bị đơn bà Trần Thị N yêu cầu trả số tiền nợ hụi 217.300.000 đồng phát sinh từ việc ông C, bà P tham gia các dây hụi do bà N khui, bà N khui gồm 06 dây hụi ông C, bà P (tên tham gia ghi tên Bích C1) đã chầu đầy đủ và sau khi hốt hụi thì bà N không giao tiền. Bà N thừa nhận trước đây bà N có đứng khui 06 (sáu) dây hụi nêu trên và ông C, bà P có tham gia như ông C, bà P trình bày hiện bà con nợ ông C, bà P 217.300.000 đồng (sau khi cấn trừ) và bà N đồng ý trả nợ cho ông C, bà P số tiền 217.300.000 đồng. Căn cứ vào Điều 92 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, xét đây là những tình tiết không cần phải chứng minh. Do đó, xác định giữa ông C, bà P và bà N thực tế có xác lập hợp đồng góp hụi trên cơ sở tự nguyện, thỏa thuận, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, hình thức giao dịch của hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119 và Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 4, Điều 5, Điều 6, Điều 7, Điều 8, Điều 15, Điều 18 và Điều 23 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính Phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường, từ đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của thành viên và chủ họ (hụi). Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C, bà P, buộc bà N trả cho bà ông C, bà P số tiền nợ hụi 217.300.000 đồng.[2.2] Đối với ý kiến trình bày của bị đơn bà N, hiện hoàn cảnh gia đình khó khăn, hụi viên khác không chầu đầy đủ và một số hụi viên chết trong đợt dịch Covid-19, một số thì bỏ

5

địa phương đi nên không có khả năng trả một lần, xin trả dần số tiền vốn thực đóng 161.670.000 đồng mồi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi hết nợ. Còn phần lãi bà N xin không trả lãi 55.630.000 đồng nhưng không được nguyên đơn ông C, bà P chấp nhận nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét chấp nhận yêu cầu xin trả dần và xin không trả phần lãi.[2.3] Về việc tính lãi: Ông C, bà P không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn về việc giải quyết vụ án là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.5] Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả, bồi thường cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 9, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Do yêu cầu của nguyên đơn ông C, bà P được chấp nhận nên ông C, bà P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho ông C, bà P số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 6.670.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án, lệ phí Tòa án số: 0010296 ngày 18/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tri Tôn.

Bị đơn bà N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu của nguyên đơn ông C, bà P được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 266, Điều 271, Điều 273 và Điều 278 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các điều 280, Điều 357, Điều 468 và Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 15, Điều 18 và Điều 23 Nghị định số: 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phỉ quy định về hụi, họ, biêu, phường;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn C, bà Lê Thị P đối với bị đơn bà Trần Thị N về việc yêu cầu trả số tiền nợ hụi.

    Buộc bà Trần Thị N có nghĩa vụ trả cho ông Trần Văn C, bà Lê Thị P số tiền nợ hụi 217.300.000 đồng (Hai trăm mười bảy triệu ba trăm ngàn đồng)

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

6

Trần Thị N phải chịu 10.865.000 đồng (Mười triệu tám trăm sáu mươi lăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Trả lại cho ông Trần Văn C, bà Lê Thị P số tiền 6.670.000 đồng (Sáu triệu sáu trăm bảy mươi ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0010296 ngày 18 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tri Tôn.

Kể từ ngày ông Trần Văn C, bà Lê Thị P có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, nếu bà Trần Thị N chậm thực hiện nghĩa vụ thi hành án thì còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơinhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Tri Tôn;
  • - CCTHADS huyện Tri Tôn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Chau Dau

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2023/DS-ST ngày 19/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng góp hụi

  • Số bản án: 55/2023/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng góp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/12/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger