|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 55/2024/DS-ST Ngày 19-8-2024 V/v tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hồng;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lý Thanh Chiều.
Ông Nguyễn Văn Kiệt.
- Thư ký phiên Tòa: Bà Trương Thị Anh Thư là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú tham gia phiên Tòa: Bà Triệu Thị Mộng Lý – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 85/2024/TLST-DS ngày 27 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 142/2024/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công Ty C; Trụ sở chính: 128 N, Phường B, Thành phố V, Tỉnh Nghệ An.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Anh H; địa chỉ: Số 47 L, Phường N, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy ủy quyền số: 289/2023/UQ-SVN, ngày 01-10-2023 (vắng mặt).
- Bị đơn: Chị Đinh Bé T; Địa chỉ: ấp M, xã M huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 13 tháng 5 năm 2024, cũng như trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Võ Anh H trình bày:
Vào ngày 28 tháng 10 năm 2022 chị Đinh Bé T có đến Công ty trách nhiệm hữu hạn Srisawad Việt Nam - chi nhánh Sóc Trăng (nay là Công Ty C) để ký hợp đồng cầm cố tài sản theo hợp đồng cầm cố số: STM221001015NA21X theo hợp đồng cầm cố tài sản thì chị Trâm cầm cố tài sản là: 01 xe môtô hai bánh BKS 83M1-080.44, loại xe HONDA VISON màu xanh đen đỏ; số khung RLHJK0321MZ086982, số máy JK03E7592325, số giấy chứng nhận đăng ký xe môtô 004016. Công Ty C đã giao cho chị Trâm số tiền là 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng); thời hạn cầm cố là 12 (từ ngày 28 tháng 10 năm 2022 đến ngày 28 tháng 10 năm 2023), với mức lãi suất là 1,1%/ tháng.
Ngoài ra, chị Đinh Bé T đã có Giấy ủy quyền lập ngày 28 tháng 10 năm 2022 cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Srisawad Việt Nam - chi nhánh Sóc Trăng (nay là Công Ty C) với nội dung, bên A chị Trâm) đồng ý uỷ quyền cho bên B (Công ty trách nhiệm hữu hạn Srisawad Việt Nam - chi nhánh Sóc Trăng (nay là Công Ty C) “quản lý, sử dụng và định đoạt (cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng của tài sản và hưởng hoa lợi, lợi tức từ việc khai thác tài sản) xe môtô hai bánh BKS 83M1-080.44, loại xe HONDA VISON màu xanh đen đỏ; số khung RLHJK0321MZ086982, số máy JK03E7592325, số giấy chứng nhận đăng ký xe môtô 004016. Do nhu cầu cần có xe đi lại hàng ngày nên Công Ty C có ký giấy mượn xe cho chị Trâm mượn lại xe sử dụng. Trong Giấy mượn xe có quy định rõ thời hạn mượn xe từ ngày 28 tháng 10 năm 2022 đến ngày 28 tháng 11 năm 2022 địa điểm trả xe là tại chi nhánh Sóc Trăng, nhưng đến nay chị Trâm vẫn không thực hiện đúng theo cam kết đã thoả thuận hai bên.
Theo đơn khởi kiện lập ngày 13 tháng 5 năm 2024 nguyên đơn Công Ty C yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản là 01 (một) xe môtô hai bánh BKS 83M1-080.44, loại xe HONDA VISON màu xanh đen đỏ; số khung RLHJK0321MZ086982, số máy JK03E7592325, số giấy chứng nhận đăng ký xe môtô 004016 để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho công ty, yêu cầu bị đơn trả các khoản phí và lãi phát phát sinh theo hợp đồng cầm cố. Nay nguyên đơn có đơn yêu cầu thay đổi rút lại tất cả các yêu cầu trên, chỉ yêu cầu trả nợ gốc, tiền lãi trong hạn và tiền Lãi quá hạn.
Những vấn đề cụ thể người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bao gồm: Buộc bà Đinh Bé T phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ tính đến ngày 19 tháng 8 năm 2024 là: 17.994.000 đồng, trong đó: gốc: 14.022.000 đồng; tiền lãi trong hạn là: 1.697.000 đồng; tiền lãi quá hạn: 2.275.000 đồng.
Đối với bị đơn chị Đinh Bé T sau khi Tòa án thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án hợp lệ cho bị đơn chị Đinh Bé T nhưng bị đơn chị Đinh Bé T không có văn bản trả lời cho Tòa án. Sau đó, Tòa án có gửi thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vụ án hai (02) lần nhưng bị đơn chị Đinh Bé T vẫn không tham gia.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn chị Đinh Bé T phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ tính đến ngày 19 tháng 8 năm 2024 gốc và lãi là 17.994.000 đồng, trong đó: tiền gốc là: 14.022.000 đồng; tiền lãi trong hạn là: 1.697.000 đồng; tiền lãi quá hạn: 2.275.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về sự có mặt, vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn vắng mặt (có đơn vắng mặt); Bị đơn chị Đinh Bé T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
- Về thủ tục thụ lý việc khởi kiện của nguyên đơn Công Ty C: Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng nhận được đơn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công Ty C cùng tài liệu, chứng cứ kèm theo do nguyên đơn Công Ty C nộp trực tiếp tại Tòa án. Ngay sau khi nhận được đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án thực hiện thủ tục nhận, xử lý đơn khởi kiện của nguyên đơn Công Ty C và thụ lý vụ án đúng quy định tại Điều 191 và Điều 195 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Nguyên đơn thay đổi yêu cầu, nguyên đơn không yêu cầu Hội đồng xét xử xét đối với tài sản là 01 xe môtô hai bánh BKS 83M1-080.44, loại xe HONDA VISON màu xanh đen đỏ; số khung RLHJK0321MZ086982, số máy JK03E7592325, số giấy chứng nhận đăng ký xe môtô 004016 để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho công ty, cùng với các khoản phí và lãi phát phát sinh theo hợp đồng cầm cố. Hội đồng xét xử thấy rằng việc thay đổi yêu cầu của nguyên đơn không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu nên theo quy định tại khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
-
Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn Công Ty C khởi kiện yêu cầu bị đơn chị Đinh Bé T trả số tiền vay tính đến hết ngày 19 tháng 8 năm 2024 theo hợp đồng cầm cố số: STM221001015NA21X được ký ngày 28 tháng 10 năm 2022 thì bị đơn chị Đinh Bé T còn nợ số tiền gốc và tiền lãi là 17.994.000 đồng, trong đó: gốc: 14.022.000 đồng; tiền lãi trong hạn là: 1.697.000 đồng; tiền lãi quá hạn: 2.275.000 đồng. Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp dân sự “tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chị Đinh Bé T, có địa chỉ tại ấp M, xã M huyện M, tỉnh Sóc Trăng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú.
-
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công Ty C. Hội đồng xét xử thấy rằng theo hợp đồng cầm cố số: STM221001015NA21X được ký ngày 28 tháng 10 năm 2022 thì chị Đinh Bé T có ký hợp đồng cầm cố tài sản là: 01 xe môtô hai bánh BKS 83M1-080.44, loại xe HONDA VISON màu xanh đen đỏ; số khung RLHJK0321MZ086982, số máy JK03E7592325, số giấy chứng nhận đăng ký xe môtô 004016. Công Ty C đã giao cho chị Đinh Bé T số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng). Nguyên đơn Công Ty C cung cấp được cho Tòa án hợp đồng cầm cố số: STM221001015NA21X được ký ngày 28 tháng 10 năm 2022 đều có chữ ký, chữ viết của bị đơn chị Đinh Bé T. Đồng thời trong quá trình thực hiện hợp đồng chị Đinh Bé T thanh toán cho nguyên đơn được 1.684.000 đồng (trong đó: gốc là 978.000 đồng; lãi trong hạn: 165.000 đồng; phí mượn xe: 450.000 đồng; phí quản lý hồ sơ: 75.000 đồng; phí vi phạm nghĩa vụ thanh toán: 16.000 đồng).
Xét thấy, Hợp đồng cầm cố tài sản được các bên xác lập trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, không bị lừa dối hay bị ép buộc nên đây là hợp đồng hợp pháp phù hợp với quy định với Điều 309 Bộ luật Dân sự năm 2015. Trong quá trình thực hiện hợp đồng chị Đinh Bé T không trả tiền gốc cho nguyên đơn khi đến hạn là vi phạm nghĩa vụ theo Điều 311 Bộ luật Dân sự năm 2015. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Đinh Bé T có nghĩa vụ trả số tiền gốc còn lại 14.022.000 đồng là phù hợp nên chấp nhận.
-
Về lãi suất: Nguyên đơn có đăng ký kinh doanh dịch vụ cầm đồ, nên yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật đối với số tiền 14.022.000 đồng, Hội đồng xét xử thấy rằng: Theo nội dung của Hợp đồng cầm cố số: STM221001015NA21X được ký ngày 28 tháng 10 năm 2022, thời hạn cầm cố là 12 tháng, với mức lãi suất là 1,1%/ tháng trên dư nợ thực tế, tính từ ngày kí hợp đồng và nhận tiền. Tuy nhiên, tính đến ngày 19 tháng 8 năm 2024 đã quá hạn hợp đồng, chị Trâm vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo như đúng cam kết. Do đó, yêu cầu tính lãi nêu trên của nguyên đơn là có căn cứ. Theo đó, căn cứ khoản 6 Điều 29 Nghị định 96/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ và điểm a khoản 2 Điều 4 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 01 tháng 10 năm 2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm nên yêu cầu này của nguyên đơn là phù hợp với Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, Tổng số tiền dư nợ gốc và lãi mà chị Đinh Bé T chưa thanh toán cho nguyên đơn tính đến ngày 19 tháng 8 năm 2024 là 17.994.000 đồng, trong đó: gốc: 14.022.000 đồng; tiền lãi trong hạn là: 1.697.000 đồng; tiền lãi quá hạn: 2.275.000 đồng. Hội đồng xét xử buộc chị Đinh Bé T có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn tính đến ngày 19 tháng 8 năm 2024 số tiền gốc và lãi là: 17.994.000 đồng, trong đó: tiền gốc là: 14.022.000 đồng; tiền lãi trong hạn là: 1.697.000 đồng; tiền lãi quá hạn: 2.275.000 đồng.
Ngay sau khi chị Đinh Bé T thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ thì Công Ty C có trách nhiệm giao trả lại giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, gắn máy của chị Đinh Bé T đúng theo quy định hai bên đã ký kết theo hợp đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn chị Đinh Bé T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5% trên tổng số tiền là: 17.994.000 đồng x 5% = 899.700 đồng. Nguyên đơn Công Ty C không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 63; khoản 1 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; khoản 1 Điều 244; Điều 266; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 309, 311, 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công Ty C.
Buộc bị đơn chị Đinh Bé T trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn Công Ty C số tiền gốc và tiền lãi vay tính đến hết ngày 19 tháng 8 năm 2024 là: 17.994.000 đồng, trong đó: tiền gốc là: 14.022.000 đồng; tiền lãi trong hạn là: 1.697.000 đồng; tiền lãi quá hạn: 2.275.000 đồng.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày nguyên đơn Công Ty C có đơn yêu cầu thi hành án mà bị đơn chị Đinh Bé T chưa thanh toán, thì hàng tháng bị đơn chị Đinh Bé T còn phải trả lãi cho nguyên đơn Công Ty C theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với số tiền chậm thi hành án.
- Ngay sau khi chị Đinh Bé T thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ thì nguyên đơn Công Ty C có trách nhiệm trả lại giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, gắn máy của chị Đinh Bé T, biển số đăng ký 83M1-080.44.
-
Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn chị Đinh Bé T phải chịu án phí số tiền 899.700 đồng.
Hoàn trả lại cho nguyên đơn Công Ty C số tiền tạm ứng án phí 536.425 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0003582 ngày 24 tháng 5 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.
- Nguyên đơn; bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi hành án Dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi hành án Dân sự năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi hành án Dân sự năm 2014.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thu Hồng |
Bản án số 55/2024/DS-ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản
- Số bản án: 55/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
