TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 55/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 19-7-2024
“Về việc ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Danh.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Thận.
2. Bà Hồ Thị Hồng Hạnh.
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thế Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
Trong ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 167/2023/TLST - HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2023, về việc “ Ly hôn” giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Tường Thị Ngọc A, sinh năm 1982 (Có mặt).
Địa chỉ: Thôn A, xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Bị đơn: Đào Công Tự, sinh năm 1979 (Vắng).
Địa chỉ: Thôn A, xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 15/08/2023, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà nguyên đơn chị Tường Thị Ngọc A trình bày: Chị và anh Đào Công T tự nguyện chung sống với nhau và đăng ký kết hôn tại UBND xã Mg, huyện B, tỉnh Bình Phước vào ngày 03/12/2001. Sau khi đăng ký kết hôn vợ chồng chung sống với nhau bình thường đến năm 2020 thì nẫy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng về quan điểm sống, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cải nhau, nhiều lần anh Tự còn đánh đập chị, chị và anh T đã sống ly thân từ tháng 08 năm 2023 cho đến nay, trong thời gian sống ly thân, anh chị không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Hiện nay mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đào Công T.
Về con chung: Trong thời gian chung sống với nhau anh chị có 03 con chung là Đào Thị Thanh T, sinh ngày ngày 09/04/2003, Đào Thị Thanh H, sinh ngày 28/09/2005, Đào Thị Thuỷ T, sinh ngày 13/09/2009, từ khi sống ly thân cho đến nay chị là người trực tiếp nuôi dưỡng các con, sau khi ly hôn chị có nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung Đào Thị Thuỷ T cho đến khi con thành niên, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung là Đào Thị Thanh T, Đào Thị Thanh H hiện nay đã thành niên nên không đặt ra việc nuôi dưỡng.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết:
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án anh Đào Công T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Tường Thị Ngọc A tự nguyện chung sống với nhau và đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước vào ngày 03/12/2001, trong quá trình chung sống với nhau anh chị cũng xảy ra mâu thuẫn cải nhau, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, một số lần không kiềm chế được bản thân anh có tát chị A. Tuy nhiên hiện nay chị A yêu cầu ly hôn với anh, anh không đồng ý vì các con nên anh muốn về đoàn tụ gia đình để nuôi dậy các con.
Về con chung: Trong thời gian chung sống với nhau anh chị có 03 con chung là Đào Thị Thanh T, sinh ngày ngày 09/04/2003, Đào Thị Thanh H, sinh ngày 28/09/2005, Đào Thị Thuỷ T, sinh ngày 13/09/2009, trường hợp Toà án giải quyết cho anh và chị Tường Thị Ngọc A ly hôn anh cũng không có ý kiến, yêu cầu gì về con chung vì anh mong muốn gia đình về đoàn tụ.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Toà án:
Theo đơn khởi kiện của chị Tường Thị Ngọc A yêu cầu ly hôn với anh Đào Công T, nơi cư trú của anh Đào Công T tại thôn A, xã M Hưng, huyện B, tỉnh Bình Phước. Hội đồng xét xử nhận thấy đây là vụ án “ Hôn nhân gia đình” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn đã được Toà án triệu tập đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
[2]. Về nội dung vụ án:
Xét quan hệ hôn nhân: Xét thấy chị Tường Thị Ngọc A và anh Đào Công T tự nguyện chung sống với nhau và đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước vào ngày 03/12/2001. Căn cứ vào Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xác định quan hệ hôn nhân giữa chị Tường Thị Ngọc A và anh Đào Công T là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Tường Thị Ngọc A thấy rằng: Sau khi đăng ký kết hôn chị và anh Đào Công T chung sống với nhau hạnh phúc đến năm 2020 thì nẫy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng về quan điểm sống, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cải nhau, một số lần anh Đào Công T còn đánh chị vì vậy chị Tường Thị Ngọc A yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đào Công T. Bị đơn anh Đào Công T cũng xác nhận trong quá trình chung sống với nhau anh chị cũng xảy ra mâu thuẫn cải nhau, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không bất đồng về quan điểm sống, một số lần không kiềm chế được bản thân anh có tát chị A. Tuy nhiên hiện nay chị Tường Thị Ngọc A yêu cầu ly hôn với anh, anh không đồng ý vì các con nên anh muốn về đoàn tụ gia đình để nuôi dậy các con. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Tường Thị Ngọc A và anh Đào Công T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, thực tế thì từ tháng 08 năm 2023 đến nay chị Tường Thị Ngọc A và anh Đào Công T đã sống ly thân, trong thời gian sống ly thân anh chị không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, do đó mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Tường Thị Ngọc A là phù hợp.
Xét nguyện vọng nuôi con của chị Tường Thị Ngọc A thấy rằng: Trong thời gian chung sống với nhau anh chị có 03 con chung là Đào Thị Thanh T, sinh ngày 09/04/2003, Đào Thị Thanh H, sinh ngày 28/09/2005, Đào Thị Thuỷ T, sinh ngày 13/09/2009, từ khi sống ly thân cho đến nay chị là người trực tiếp nuôi dưỡng các con, sau khi ly hôn chị có nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung Đào Thị Thuỷ T cho đến khi con thành niên. Quá trình giải quyết vụ án anh Đào Công T cũng không có ý kiến, yêu cầu gì về con chung, Tòa án đã triệu tập anh Đào Công T nhiều lần để làm việc, yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh về điều kiện nuôi con của anh Đào Công T nhưng anh Đào Công T không đến làm việc, tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, hoãn phiên tòa nhưng anh Đào Công T đều vắng mặt không có lý do. Như vậy anh Đào Công T đã tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Tường Thị Ngọc A, xét thấy trong trong thời gian anh Đào Công T và chị Tường Thị Ngọc A sống ly thân cho đến nay chị Tường Thị Ngọc A là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Đào Thị Thuỳ T, con chung của anh chị là Đào Thị Thuỷ T cũng có nguyện vọng sau khi chị Tường Thị Ngọc A và anh Đào Công T ly hôn thì tiếp tục ở với mẹ là chị chị Tường Thị Ngọc A nên cần giao con chung Đào Thị Thuỷ T cho chị Tường Thị Ngọc A tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Tường Thị Ngọc A và anh Đào Công T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với con chung là Đào Thị Thanh T, Đào Thị Thanh H hiện nay đã thành niên nên không đặt ra việc nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3]. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị chị Tường Thị Ngọc A phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 266; Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83, Điều 84; Điều 116; Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Tường Thị Ngọc A, chị Tường Thị Ngọc A được ly hôn với anh Đào Công T.
- Về con chung: Giao con chung là Đào Thị Thuỷ T, sinh ngày 13/09/2009 cho chị Tường Thị Ngọc A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con mà lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật. Quyền và nghĩa vụ của anh chị đối với con chung được thực hiện theo quy định tại các Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Tường Thị Ngọc A và anh Đào Công T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với con chung là Đào Thị Thanh T, Đào Thị Thanh H hiện nay đã thành niên nên không đặt ra việc nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Chị Tường Thị Ngọc A phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp theo Biên lai thu số 0001201 ngày 03/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| T/M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Danh |
Bản án số 55/2023/HNGĐ-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về ly hôn
- Số bản án: 55/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
