Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TUYÊN QUANG


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 55/2024/HS-ST

Ngày 18 tháng 9 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bàn Văn Thế

- Thẩm phán: Ông Ma Ngọc Trung

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồng Ngoan; ông Ma Kim Thu và ông Trần Ngọc Thuỷ

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên toà: Ông Vũ Văn Tuyên - Kiểm sát viên

Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 54/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vũ Thanh S, sinh ngày 01/01/1969 tại tỉnh Tuyên Quang;

Nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn) lớp: 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ đảng, đoàn thể: Không; con ông Vũ Văn G (đã chết) và bà Trần Thị H, sinh năm 1940; Vợ: Hoàng Thị Y, sinh năm 1966; có 01 con, sinh năm 1997; tiền án, tiền sự: Không;

* Nhân thân:

- Bản án hình sự sơ thẩm số 06/ST ngày 10/02/1999 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên xử phạt 06 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (đã chấp hành xong);

- Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2008/HSST ngày 21/01/2008 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên xử phạt 09 tháng tù về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản (đã chấp hành xong);

- Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2012/HSST ngày 21/9/2012 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên xử phạt 09 tháng tù về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản (đã chấp hành xong).

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/4/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Vũ Văn Ô – Công ty L1, thuộc Đoàn luật sư tỉnh T. Địa chỉ: Khu dân cư L, tổ A, phường P, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.

Bị hại: Ông Ninh Văn N, sinh năm 1956. Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.

Người làm chứng: Ông Lã Hùng V, chị Vũ Thị Kim M, chị Tạ Thị H1, ông Hoàng Đức H2 và bà Hoàng Thị Y. Bà H1 có mặt, những người làm chứng khác vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 45 phút, ngày 30/3/2024, sau khi ăn cơm tối và uống rượu xong, Vũ Thanh S đi ra ngoài cổng, đứng ở chân cột điện dùng tay mở hộp lắp đặt công tơ điện rồi tắt 03 Aptomat của các gia đình Lã Hùng V, Ninh Văn N và Vũ Thị Kim M (em gái S) làm 03 gia đình mất điện, do bức xúc từ trước về việc gia đình các ông V, N và chị M chưa chuyển công tơ và đường dây điện sang cột điện mới (các đường dây điện này đi qua mái xưởng gỗ của gia đình S và đấu nối vào hộp công tơ lắp trên cột điện cũ cạnh cổng nhà S).

Thấy bị mất điện, ông V điều khiển xe mô tô đi đến cột điện để kiểm tra, thấy S đứng cạnh cột điện, ông V hỏi “Sao mày sập điện nhà tao?”, thì S nói “Tao sập đấy, tao sập, tao phá hết”. Lúc này, ông N cũng điều khiển xe mô tô đi đến, S và ông V đang cãi nhau to tiếng, S nói “B chuyển không chuyển, tao đập hết”. Thấy vậy, ông N nói “Chuyển thì thợ điện người ta chuyển, chứ mình chuyển làm sao được, bình tĩnh giải quyết”, S chạy vào trong sân, vừa đi vừa nói “Đ. mẹ thằng già này, hôm nay tao phải giết thằng già này”, rồi tay phải cầm lấy 01 con dao chuôi gỗ (dài 55cm, chuôi dao bằng gỗ hình trụ tròn dài 23cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 32cm, bản dao rộng nhất 5,2cm) trên phản ở hiên nhà rồi đi ra cổng. Lúc này, ông N dắt xe để đi về, S tiến đến đứng đối diện với ông N, (ông N đứng phía bên trái xe mô tô, S đứng phía bên phải xe mô tô theo chiều đi của ông N). S tay phải cầm chuôi dao, đặt lưỡi dao vào phần cổ bên trái của ông N, S nói “...giết...”, đồng thời ấn lưỡi dao vào cổ kéo miết dao (cắt) theo hướng từ sau về trước, từ phải qua trái làm ông N bị thương tích tại vùng cổ bên trái, ông N bỏ xe mô tô và chạy về phía nhà của mình. Thấy ông N bỏ chạy, S ném dao vào cạnh tường nhà S rồi đi vào nhà. Ông N được chị Tạ Thị H1 cùng tổ dân phố đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện H.

* Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 65/2024/KLTTCT-TTPY ngày 02/4/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Ninh Văn N tại thời điểm giám định là: 04% (Bốn phần trăm). Cơ chế, vật gây thương tích: Thương tích như trên là do vật sắc tác động trực tiếp gây nên.

* Tại Kết luận giám định ADN số 258/2024/KLGDADN-PYQG ngày 24/4/2024 của V1 kết luận: AND thu từ con dao gửi giám định (mẫu ký hiệu A1) trùng khớp hoàn toàn với AND của Ninh Văn N (mẫu ký hiệu M2) trên tất cả các locus STR đã so sánh.

Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tạm giữ: 01 (một) con dao dài 55cm, chuôi dao bằng gỗ hình trụ tròn dài 23cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 32cm, bản dao rộng nhất 5,2cm; 01 (một) chân dép thu tại vị trí số 2; 01 (một) chân dép thu tại vị trí số 3 và 01 (một) chân dép thu tại vị trí số 4 hiện trường vụ án

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho ông Ninh Văn N 8.517.400 đồng, ông N không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm.

Từ nội dung trên, Cáo trạng số 56/CT-VKSTQ-P2 ngày 28 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Vũ Thanh S về tội Giết người, theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Thanh S phạm tội “Giết người”. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 54; Điều 57; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Thanh S từ 06 (sáu) năm đến 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, ngày 06/4/2024.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho ông Ninh Văn N 8.517.400 đồng, ông N không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm, nên không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Các vật chứng đã thu giữ là 01 con dao và 03 chân dép không còn giá trị sử dụng, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định về án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bị hại ông Ninh Văn N trình bày: Ông và bị cáo có mối quan hệ là hàng xóm với nhau; sự việc chỉ bắt nguồn từ việc gia đình ông chưa chuyển công tơ điện sang đường dây mới, khi thấy bị cáo và ông Vĩnh cãi nhau, ông có ra để giải thích nhưng bị cáo đã dùng dao, đặt lưỡi dao vào vùng cổ bên trái của ông và ấn miết dao cắt cổ ông, hậu quả ông bị thương tích 04%. Về trách nhiệm dân sự, quá trình điều tra, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho ông 8.517.400 đồng, ông không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm. Về hình phạt, ông đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, ông nhất trí với mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày luận cứ: Nhất trí với tội danh, điều luật Kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và tỏ rõ sự ăn năn hối cải; đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có mẹ đẻ được tặng thưởng H3 huy chương, bị cáo phạm tội chưa đạt . Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 57 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án dưới khung hình phạt, mức thấp nhất theo đề nghị của địa diện Viện kiểm sát tại phiên toà.

Bị cáo nhất trí với quan điểm bào chữa của luật sư.

Kết thúc phần tranh tụng, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, tỏ thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố. Ngoài lời khai nhận tội của bị cáo, hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng: Lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra, kết luận giám định, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án; tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới.

Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 45 phút, ngày 30/3/2024, tại tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang. Do mâu thuẫn trong việc chuyển đường điện nên Vũ Thanh S, cư trú tại tổ dân phố T đã có lời nói đe doạ giết ông Ninh Văn N ở cùng tổ dân phố, S có hành vi dùng tay phải cầm 01 con dao bằng kim loại, chuôi gỗ (dài 55cm, chuôi dao bằng gỗ hình trụ tròn dài 23cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 32cm, bản dao rộng nhất 5,2cm) dí lưỡi dao vào phần cổ bên trái của ông N, S nói “...giết...” rồi ấn, kéo miết lưỡi dao (cắt) cổ ông N. Hậu quả ông N bị thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể 04% (bốn phần trăm).

Hành vi của bị cáo có tính chất côn đồ, chỉ vì mẫu thuẫn nhỏ mà bị cáo đã có hành vi dùng con dao là hung khí nguy hiểm tấn công vào vùng trọng yếu trên cơ thể bị hại. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang truy tố đối với bị cáo về tội Giết người quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực, nhận thức được hành vi dùng 01 con dài bằng kim loại, chuôi gỗ (dài 55cm, chuôi dao bằng gỗ hình trụ tròn dài 23cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 32cm, bản dao rộng nhất 5,2cm) để cứa, miết vào cổ bị hại có thể dẫn đến tử vong, hậu quả làm ông Ninh Văn N tổn hại 04% sức khoẻ, việc bị hại chưa chết là nằm ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình. Hành vi của bị cáo là cố ý, coi thường pháp luật và tính mạng của người khác. Bản thân bị cáo đã nhiều lần bị Toà án xét xử và buộc tội nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để rút kinh nghiệm, tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Xét nhân thân, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo có mẹ là bà Trần Thị H được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ, Huy chương vì sự nghiệp phát triển rừng Việt Nam, bị cáo phạm tội chưa đạt. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần xem xét áp dụng cho bị cáo.

Xét bị cáo không có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ hình phạt, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án dưới khung hình phạt là phù hợp và đúng quy định của pháp luật.

[4] Về mức hình phạt Kiểm sát viên đề nghị, Hội đồng xét xử thấy phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên chấp nhận.

[5] Về luận cứ của luật sư bào chữa cho bị cáo, Hội đồng xét xử sẽ xem xét quyết định cho phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại. Tại phiên toà, bị hại không yêu cầu bồi thường thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ 03 chân dép và 01 con dao. Xét thấy các vật chứng này không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.

[8] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người bào chữa cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Vũ Thanh S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo; bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 54; Điều 57; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố: Bị cáo Vũ Thanh S phạm tội “Giết người”.

    Xử phạt bị cáo Vũ Thanh S 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 06/4/2024).

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy:

    • - 01 (Một) Bì niêm phong, bên ngoài có hình dấu của V1, có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong gồm Đinh Thị L, Hoàng Trọng H4, bên trong chứa 01 (một) con dao dài 55cm, chuôi dao bằng gỗ hình tròn dài 23cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 32cm, bản dao rộng nhất 5,2cm, được bọc xung quanh bằng ni-lông;
    • - 01 (Một) Bì niêm phong, bên ngoài ghi chữ “chân dép thu ở vị trí số 2” có hình dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Tuyên Quang, có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong gồm Hoàng Văn C, Nguyễn Quốc C1, Tạ Văn Q, Nguyễn Thanh T, bên trong chứa 01 (một) chân dép thu tại vị trí số 2 tại hiện trường;
    • - 01 (Một) Bì niêm phong, bên ngoài ghi chữ “chân dép thu ở vị trí số 3” có hình dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Tuyên Quang, có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong gồm Hoàng Văn C, Nguyễn Quốc C1, Tạ Văn Q, Nguyễn Thanh T, bên trong chứa 01 (một) chân dép thu tại vị trí số 3 tại hiện trường;
    • - 01 (Một) Bì niêm phong, bên ngoài ghi chữ “chân dép thu ở vị trí số 4” có hình dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Tuyên Quang, có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong gồm Hoàng Văn C, Nguyễn Quốc C1, Tạ Văn Q, Nguyễn Thanh T, bên trong chứa 01 (một) chân dép thu tại vị trí số 4 tại hiện trường.

    (Tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang, lập ngày 05/9/2024)

  3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Vũ Thanh S phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo; bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 18/9/2024)./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh T.Quang;
  • - Công an tỉnh T.Quang (CQCSĐT + Phòng hồ sơ);
  • - Cục THADS tỉnh T. Quang;
  • - Trại tạm giam Công tỉnh T.Quang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh T.Quang;
  • - Người bào chữa cho BC;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Văn phòng; Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Bàn Văn Thế

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG về hình sự

  • Số bản án: 55/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vu Thanh S phạm tội Giết người
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger