Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẢNG TRẠCH

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 55/2023/HS-ST

Ngày: 17-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán– Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Anh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

  • + Ông Hoàng Anh Huê;
  • + Bà Đậu Thị Phú.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Tâm- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Đàm Xuân Tân – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 48/2023/HSST ngày 02 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn N, sinh ngày: 20/8/1990, tại Q, Q, Quảng Bình; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; học vấn: 09/12; nghề nghiệp: không nghề; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Đình K và bà Phan Thị L; có vợ tên Trần Thị T và có 01 người con, sinh năm 2016; tiền án: Ngày 01/02/2018 bị Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chưa được xoá án tích). Ngày 31/7/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình xử phạt 20 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chưa được xoá án tích). Ngày 19/8/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình xử phạt 26 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chưa được xoá án tích); tiền sự: không; về nhân thân: Ngày 20/9/2012 bị Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về “Cướp tài sản”. Ngày 12/7/2013 bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 26/9/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 25/9/2023 bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã B ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can về hành vi trộm cắp tài sản (hiện đang trong thời hạn chuẩn bị xét xử). Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 21/7/2023 đến ngày 24/7/2023 chuyển tạm giam cho đến nay. Theo lệnh trích xuất, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

  • + Anh Hoàng Tiến S, sinh năm 1983; nơi cư trú: thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
  • + Chị Phạm Thị T1, sinh năm 1995; nơi cư trú: thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Đình K, sinh năm 1940; nơi cư trú: Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 20/7/2023, Nguyễn Văn N điều khiển xe mô tô BKS: 73K6-1294, nhãn hiệu Boss, màu nâu đi từ nhà tại thôn H, xã Q đến thôn Đ, xã Q, huyện Q tìm kiếm sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đi qua nhà anh Hoàng Tiến S, Năm quan sát thấy cửa mở, không có người trong nhà nên đã dựng xe ở ngoài đường, đột nhập vào nhà bằng đường cửa chính rồi đi vào phòng ngủ thứ hai, phát hiện ở đầu giường ngủ có một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại 8 Plus, màu đỏ, Năm lấy trộm điện thoại để vào túi quần bên phải, rồi tẩu thoát bằng lối cửa chính. Đến chiều ngày 21/7/2023, khi N đang cất giữ điện thoại trộm được trên người thì bị cơ quan Công an phát hiện mời làm việc và thu giữ điện thoại.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn N khai nhận, ngoài hành vi phạm tội nêu trên, còn thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản khác, cụ thể:

Khoảng 08 giờ ngày 26/6/2023, Nguyễn Văn N điều khiển xe mô tô BKS: 73K6-1294, nhãn hiệu Boss, màu nâu chạy xung quanh các tuyến đường thuộc thôn T, xã Q, huyện Q tìm kiếm nhà nào sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi di chuyển đến nhà chị Phạm Thị T1, Năm phát hiện nhà chị T1 không đóng cửa, không thấy có người trong nhà nên N đã dựng xe trước cổng rồi đột nhập vào nhà bằng đường cửa chính. Năm thấy một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại XS Max, màu vàng gold để ở trên bàn tại phòng khách nên đã nhanh chóng lấy trộm điện thoại rồi tẩu thoát theo đường cửa chính. Sau khi trộm được tài sản, Năm giữ lại để sử dụng.

Bản kết luận định giá tài sản số 27/KL-HĐĐGTS ngày 24/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện Q kết luận: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone, loại Iphone 8 Plus, màu đỏ, số IMEI: 356733086711, trong máy có gắn sim số 0868947129, đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm tháng 7/2023 là 2.500.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại Iphone XS Max, màu vàng gold, số IMEI: 357292095098788, số IMEI2: 357292095185106, đã qua sử dụng, có giá trị tại thời điểm tháng 6/2023 là 5.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, thu giữ, tạm giữ và trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp các vật chứng gồm: Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu BOSS, màu nâu, biển kiểm soát 73K6-1294, số khung 202417, số máy 202502, xe đã qua sử dụng cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Nguyễn Đình K; trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại Iphone XS Max, màu vàng gold, số IMEI: 357292095098788, số IMEI2: 357292095185106, điện thoại đã qua sử dụng cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Hoàng Tiến S; trả lại 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone, loại Iphone 8 Plus, màu đỏ, số IMEI: 356733086711, trong máy có gắn sim số 0868947129, điện thoại đã qua sử dụng cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Phạm Thị T1.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản, anh Hoàng Tiến S và chị Phạm Thị T1 không có yêu cầu bồi thường gì.

Tại Cáo trạng số: 52/CT-VKSQT ngày 24/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng g khoản 2 Điều 173; các điểm r, s Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 36 tháng đến 42 tháng tù; về trách nhiệm dân sự và vật chứng: không đề nghị xem xét; về án phí buộc bị cáo Nguyễn Văn N chịu án phí theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn N đồng ý với Bản luận tội của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về tội danh, khung hình phạt và không có gì tranh luận.

Nói lời sau cùng, bị cáo Nguyễn Văn N xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn N đã thừa nhận toàn bộ về hành vi phạm tội của mình: Lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản của các bị hại nên vào các ngày 26 tháng 6 năm 2023 và ngày 20 tháng 7 năm 2023, bị cáo Nguyễn Văn N đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Q. Giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt theo kết luận của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự là 7.500.000 đồng. Bị cáo đã tái phạm nguy hiểm chưa được xóa án tích mà còn tiếp tục phạm tội mới. Căn cứ vào lời khai nhận của bị cáo, trên cơ sở xem xét các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, đối chiếu với các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận, bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện không những đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực và khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình nhưng chỉ vì để nhanh chóng có tiền tiêu xài nên bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thấy rằng:

Bị cáo Nguyễn Văn N có 03 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích, có nhân thân xấu, nhiều lần bị tòa án các cấp có thẩm quyền xét xử về tội trộm cắp tài sản và cướp tài sản. Hành vi phạm tội lần này thuộc trường hợp định khung tăng nặng “tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015. Ngoài ra trong vụ án này bị cáo đã hai lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự 2015. Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo khai bào thành khẩn, ăn năn hối cải; bố và mẹ của bị cáo là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng “Huân chương kháng chiến hạng nhất” nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ nói trên cho bị cáo được hưởng và xem xét khi quyết định hình phạt.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại anh Hoàng Tiến S, chị Phạm Thị T1 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không có yêu cầu bị cáo bồi thường và cam kết sẽ không khiếu kiện, khiếu nại gì về phần dân sự, do đó Hội đồng xét xử không xem xét thêm.

[6] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q đã tiến hành xác minh và trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp theo quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét thêm.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; các điểm r, s Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTCQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thượng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản".
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo Nguyễn Văn N bị tạm giữ, tạm giam là ngày 21/7/2023.

    Tuyên bố tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Văn N 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm theo quyết định của Hội đồng xét xử.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét thêm.
  4. Về xử lý vật chứng: Không xem xét thêm.
  5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 17/11/2023 (đối với những người có mặt tại phiên tòa) và trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật (đối với những người vắng mặt tại phiên tòa)

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - VKSND tỉnh Quảng Bình;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình;
  • - Công an huyện Quảng Trạch;
  • - VKSND huyện Quảng Trạch;
  • - Chi cục THADS huyện Quảng Trạch;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Anh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2023/HS-ST ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 55/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Văn N bị truy tố về tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger