|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 55/2024/HS-ST Ngày: 17-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Long
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Phan Văn Tao
- Ông Nguyễn Quốc Xuân
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoài – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Quang - Kiểm sát viên
Trong ngày 17 tháng 9 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm: Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè; Điểm cầu thành phần: Trại tạm giam C; Điểm cầu truyền hình trực tuyến phiên tòa rút kinh nghiệm: Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và Tòa án nhân dân Quận, Huyện và thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh - Xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 43/2024/HSST ngày 08 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 367/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Minh K, sinh năm 1998 tại tỉnh Cà Mau; Hộ khẩu thường trú: Ấp I, xã T, huyện T, Tỉnh Cà Mau; Chỗ ở trước khi bị bắt: Không có nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: Công nhân; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 7/12; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn K1 (Đã chết) và bà Trần Thị H; Vợ: Không; Con: Không.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 27/9/2019, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi” theo Bản án số 72/2019/HS-ST. Bị cáo đã chấp hành xong bản án.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/4/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C – T30, Công an Thành phố H.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1982 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Minh K là người sử dụng ma túy đá từ năm 2024. Vào ngày 21 tháng 4 năm 2024, K dùng điện thoại di động liên lạc qua mạng Facebook với người đàn ông tên H1 (không rõ nhân thân, lai lịch) để hỏi mua ma túy với giá 1.000.000 đồng thì H1 đồng ý và hẹn đến khu vực chân cầu N thuộc Phường I, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh để giao ma túy. K điều khiển xe mô tô biển số: 70D1-055.82 đến điểm hẹn để mua ma túy.
Khi đến nơi H1 bán cho K 01 gói nylon bên trong có 21 gói ma túy đá với giá 1.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, K cất giữ trong nón bảo hiểm rồi về nhà bạn ở xã H, huyện N. Trên đường đi, K ghé vào tiệm tạp hóa bên đường (không nhớ rõ địa chỉ) mua 01 cuộn băng keo 02 mặt đỏ - đen rồi dán 01 gói ma túy bằng mặt băng keo đen cất giữ trên nón vải đội trên đầu còn 02 gói ma túy thì dán bằng mặt băng keo màu đỏ cất giữ trong cốp xe, 01 gói nylon chứa 18 gói ma túy còn lại K cất giữ trong nón bảo hiểm đội ở trên đầu. Đến khoảng 12 giờ 05 phút cùng ngày, khi đang di chuyển đến trước nhà số B, đường N, Ấp A, xã H, huyện N thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện và bắt giữ.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N tiến hành khám xét nơi ở của K tại nhà trọ không số, Đường số A, Khu dân cư T, Ấp C, xã L, huyện C, tỉnh Long An. Qua khám xét, lực lượng công an phát hiện và thu giữ một số dụng cụ để sử dụng ma túy.
Tại Cơ quan điều tra Công an huyện N Nguyễn Minh K khai nhận tương tự như đã nêu trên.
Tại bản Kết luận giám định số 5016/KL-KTHS ngày 30/4/2024 của Phòng K2 - Công an Thành phố H, đã kết luận:
- Tinh thể được ký hiệu mẫu m1 cần giám định (Tinh thể trong 18 gói nylon để trong 01 gói nylon) được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Minh K và hình dấu Công an xã H, huyện N đều là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 3,5084 gam, loại Mathamphetamine.
- Tinh thể được ký hiệu mẫu m2 cần giám định (Tinh thể trong 01 gói nylon quấn băng keo màu đen) được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Minh K và hình dấu Công an xã H, huyện N đều là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1879 gam, loại Mathamphetamine.
- Tinh thể được ký hiệu mẫu m3 cần giám định (Tinh thể trong 02 gói nylon quấn băng keo màu đỏ) được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Minh K và hình dấu Công an xã H, huyện N đều là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,4305 gam, loại Mathamphetamine.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Minh K về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng số 41/CT-VKS-NB ngày 01 tháng 8 năm 2024 và sau khi phân tích, luận tội đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự và đề nghị xử phạt Nguyễn Minh K từ 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng đến 04 (Bốn) năm 09 (Chín) tháng tù.
Về xử lý vật chứng:
2
- Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định được niêm phong có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra (KH: 1544/24 Nhà B) gồm: Tinh thể có tổng khối lượng 3,2993g; Tinh thể có khối lượng 0,1518g; Tinh thể có khối lượng 0,3644g là vật cấm lưu hành nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy.
- 01 cái nón vải màu đen, 01 cái nón bảo hiểm màu xanh – đen, 01 cuộn băng keo màu đỏ, 01 cuộn băng keo, 01 cái bật lửa, 01 cái bình nhựa, 01 cái đầu khò lửa, 01 bao nylon, tất cả đã qua sử dụng là công cụ phương tiện phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy.
- 01 điện thoại di dộng hiệu Remi 10C, màu đen, IMEI 1: 861575067345446, IMEI 2: 861575067345453 đã qua sử dụng, là công cụ, phương tiện phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
- 01 xe mô tô biển số: 70D1-055.82, số khung: RLCL44S10BY048904, số máy: 44S1-048902, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo. Qua điều tra xác định do bà Nguyễn Thị N đứng tên chủ sở hữu nhưng bà Nguyễn Thị N không còn sinh sống tại địa phương. Qua tra cứu tại cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng thì chiếc xe mô tô trên không có trong cơ sở dữ liệu. Đề nghị Hội đồng xét xử giao Cơ quan Thi hành án dân sự huyện N đăng báo tìm chủ sở hữu, hết hạn 01 năm kể từ ngày đăng báo mà không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
Về các vấn đề khác: Đối với đối tượng tên H1 bán ma túy cho bị cáo, do không rõ nhân thân, lai lịch cụ thể. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Minh K đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trong bản Cáo trạng; nội dung phân tích, luận tội của kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa, đồng thời cho rằng mình không bị oan và trong lời nói sau cùng đã đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để tạo điều kiện cho bị cáo sớm hòa nhập với cộng đồng và làm người có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án; Căn cứ vào các tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi tố tụng, thẩm quyền tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra công an huyện N và Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố; bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Minh K đã thừa nhận vì nghiện ma túy nên vào ngày 21/4/2024, chính bị cáo đã cất giữ số ma túy có trọng lượng 4,1268 gam, loại Methamphetamine để sử dụng dần.
3
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 21/4/2024, phù hợp với lời khai của chính bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Minh K đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tệ nạn ma túy đang là hiểm họa và nỗi đau nhức nhối của toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm, làm suy thoái nòi giống, băng hoại đạo đức và ảnh hưởng đến phẩm giá con người. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo là người đã thành niên có đầy đủ khả năng nhận thức được việc cất giữ trái phép chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật, chống lại chủ trương bài trừ ma túy của Đ và Nhà nước nhưng vì nhu cầu nghiện hút, không làm chủ được bản thân và đặc biệt là xem thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý phạm tội như đã nêu trên. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến các quy định của nhà nước về độc quyền quản lý các chất ma túy, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự trị an chung.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm khắc, tương xứng mới có khả năng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, để răn đe riêng và phòng ngừa chung.
[3] Tuy nhiên: Xét tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt khi lượng hình theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể còn phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, cũng không có tài sản và tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát cũng không đề nghị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4] Về việc xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định được niêm phong có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra (KH: 1544/24 Nhà B) gồm: Tinh thể có tổng khối lượng 3,2993g; Tinh thể có khối lượng 0,1518g; Tinh thể có khối lượng 0,3644g là vật cấm lưu hành xét tịch thu, tiêu hủy.
- 01 cái nón vải màu đen, 01 cái nón bảo hiểm màu xanh – đen, 01 cuộn băng keo màu đỏ, 01 cuộn băng keo, 01 cái bật lửa, 01 cái bình nhựa, 01 cái đầu khò lửa, 01 bao nylon, tất cả đã qua sử dụng là công cụ phương tiện phạm tội xét tịch thu, tiêu hủy.
- 01 điện thoại di dộng hiệu Remi 10C, màu đen, IMEI 1: 861575067345446, IMEI 2: 861575067345453 đã qua sử dụng, là công cụ, phương tiện phạm tội xét tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
- Giao Cơ quan Thi hành án dân sự huyện N đăng báo tìm chủ sở hữu chiếc xe môtô biển số 70D1-055.82. Hết hạn 01 năm kể từ ngày Cơ quan Thi
4
hành án dân sự huyện N đăng báo mà không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
[5] Về các vấn đề khác: Đối với người tên H1 là người bán ma túy cho bị cáo, do không rõ nhân thân, lai lịch cụ thể. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.
[6] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Nguyễn Minh K 04 (Bốn) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/4/2024.
- Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước:
- Tịch thu, tiêu hủy:
- Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định được niêm phong có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra (KH: 1544/24 Nhà B) gồm: Tinh thể có tổng khối lượng 3,2993g; Tinh thể có khối lượng 0,1518g; Tinh thể có tổng khối lượng 0,3644g.
- 01 cái nón vải màu đen; 01 cái nón bảo hiểm màu xanh – đen; 01 cuộn băng keo màu đỏ; 01 cuộn băng keo; 01 cái bật lửa; 01 cái bình nhựa; 01 cái đầu khò lửa và 01 bao nylon.
- Đối với chiếc xe mô tô biển số: 70D1-055.82, số khung: RLCL44S10BY048904, số máy: 44S1-048902, đã qua sử dụng:
01 điện thoại di dộng hiệu Remi 10C, màu đen, IMEI 1: 861575067345446, IMEI 2: 861575067345453, đã qua sử dụng.
Giao Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhà Bè tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu. Hết hạn 01 năm kể từ ngày Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhà Bè đăng báo mà không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
(Theo phiếu nhập kho số 2024-NK052 ngày 05/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè).
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016;
Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
5
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Long |
6
Bản án số 55/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 55/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN MINH K PHẠM TỘI "TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY"
