Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRÀ CÚ

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2024/HS-ST

Ngày 17-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Truyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lương Hữu Thanh

Ông Kim Ngọc Trường

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Chế Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Kim Sum - Kiểm sát viên

Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 52/2024/TLST-HS, ngày 30 tháng 5 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2024/QĐXXST-HS, ngày 06 tháng 6 năm 2024 đối với:

  • Bị cáo Kim Mỹ H, sinh ngày 10/3/1995, tại huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nơi cư trú ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Trà Vinh nghề nghiệp: Thợ tóc; trình độ văn hóa (học vấn): 08/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Kim M, sinh năm 1970 và bà Trầm Thị Mỹ T, sinh năm 1977; bị cáo chưa có chồng, con; tiền án: Không có; tiền sự: Không; nhân thân: Chưa từng bị kết án và chưa bị xử phạt vi phạm hành chính lần nào; Bị cáo bị khởi tố vào ngày 01/01/2024 và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến ngày 30 tháng 5 năm 2024, có mặt.
  • Người bào chữa cho bị cáo Kim Mỹ H: bà Nguyễn Thị Thanh P, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T, có mặt.
  • Bị hại: Ông Dương Đình V, sinh năm 1998. Nơi cư trú ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh, có mặt.
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Kim Thị Chane T1, sinh năm 1987. Nơi cư trú ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Trà Vinh, có mặt.

  • Người làm chứng;

Ông Thạch H1, sinh năm 1993. Nơi cư trú ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Trà Vinh, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 22/10/2023, ông Thạch H1, sinh ngày 06/06/1993, nơi cư trú ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Trà Vinh tổ chức uống bia tại nhà của ông H1, những người có mặt gồm: Bị cáo Kim Mỹ H, bà Kim Thị Chane T1, sinh ngày 01/01/1987 và chồng bà T1 là ông Dương Đình V, sinh ngày 08/12/1998 cùng nơi ở hiện tại ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh và 05 người khác.

Trong quá trình uống bia, giữa bà T1 và bị cáo H có mâu thuẫn, cự cãi với nhau về việc bà T1 cho rằng bị cáo H nói xấu ông V với người khác. Lúc này, bà T1 đi đến chỗ bị cáo H và dùng 02 tay đẩy vào người bị cáo H, còn bị cáo H cũng dùng 02 tay đẩy bà T1 ra. Thấy vậy, ông V (chồng bà T1) ngồi cạnh đó đứng lên nói “mày muốn đánh vợ tao hả” rồi tay phải cầm 01 cái ghế nhựa định đánh bị cáo H nhưng chưa được đánh thì bị cáo H dùng tay phải lấy 01 vỏ chai bia Sài Gòn xanh, loại 355 ml ở trên bàn đánh một cái trúng vào vùng mắt bên phải của ông V, làm vỏ chai bia bị vỡ thành nhiều mảnh, sau đó bị cáo H đi ra khỏi bàn uống bia, bà T1 đi đến chỗ xe mô tô của bị cáo H đang dựng cạnh đó, lấy 01 cái mũ bảo hiểm đánh trúng vào đầu bị cáo H 03 cái nhưng không bị gây thương tích, được mọi người vào ngăn cản nên sự việc kết thúc. Bị cáo H lên xe mô tô điều khiển chạy về nhà, còn ông V được người thân đưa đến Trung tâm Y tế huyện T cấp cứu rồi chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh T điều trị. Sau đó, chuyển đến Bệnh viện Mắt ở Tp . điều trị cho đến ngày 26/10/2023 thì ra viện.

Vào ngày 26/10/2023, ông Dương Văn N, sinh ngày 01/01/1973, cư trú ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh là cha ruột của ông Dương Đình V đến Công an xã P tố giác hành vi nêu trên của bị cáo Kim Mỹ H. Đến ngày 28/10/2023, ông Dương Đình V có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo Kim Mỹ H về tội cố ý gây thương tích.

Căn cứ Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 400/2023/KLTTCT ngày 25 tháng 12 năm 2023 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh T, xác định:

- Các kết quả chính:

Mắt phải: Vỡ nhãn cầu đã khâu bảo tồn (Thị lực: Mắt phải: Sáng tối âm tính; Mắt trái: 10/10). Tỷ lệ: 41 % (bốn mươi mốt phần trăm).

Sẹo nhỏ vùng mi trên mắt phải: Tỷ lệ: 3% (Ba phần trăm).

- Kết luận: Căn cứ theo Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, giám định Pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân Dương Đình V tại thời điểm giám định là: 43 % (Bốn mươi ba phần trăm), áp dụng phương pháp cộng trừ tại Thông tư.

Cơ chế hình thành vết thương trên người nạn nhân Dương Đình V là:

+ Do ngoại lực tác động trực tiếp.

+ Vật gây thương tích trên là: Vật tày cứng.

+ Hướng từ trước ra sau.

Qua điều tra, bị cáo Kim Mỹ H đã thừa nhận toàn bộ hành vi gây thương tích cho ông Dương Đình V như nêu trên.

* Về việc tạm giữ và xử lý vật chứng có liên quan trong vụ án:

Ngày 01/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu gồm: Nhiều mảnh vỡ thủy tinh của vỏ chai bia nhãn hiệu Sài Gòn xanh có dung tích 355ml, không xác định được hình dạng và kích thước và 01 (một) cái mũ bảo hiểm màu đen có chữ POC màu hồng, đã qua sử dụng.

Đối với bà Kim Thị Chane T1: Có hành vi dùng mũ bảo hiểm đánh vào vùng đầu của bị cáo Kim M1 H 03 cái nhưng không bị thương tích, đã vi phạm điểm a khoản 5 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ. Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính đối với bà T1 số tiền 7.500.000 đồng. Đối với vỏ chai bia bị cáo H dùng đánh gây thương tích cho ông V, hậu quả làm vỏ chai bia vỡ thành nhiều mảnh là của ông Thạch H1, do giá trị vỏ chai bia không lớn, ông H1 không yêu cầu bị cáo H phải bồi thường.

Tại Cáo trạng số 57/CT-VKS-HS, ngày 29 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh đã truy tố bị cáo Kim Mỹ H về tội cố ý gây thương tích quy định tại điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, bị cáo Kim Mỹ H trình bày: Bị cáo thừa nhận có dùng 01 vỏ chai bia Sài Gòn xanh, loại 355 ml đánh một cái trúng vào vùng mắt bên phải của ông V, làm vỏ chai bia bị vỡ thành nhiều mảnh. Đối với tỷ lệ thương tích của bị hại Văn qua giám định bằng 43% thì bị cáo thống nhất không yêu cầu giám định lại.

Bị cáo Kim Mỹ H cho rằng nguyên nhân mà bị cáo đánh bị hại là do lúc ngồi uống bia chung, bà T1 vợ bị cáo V có ý gây sự và đánh bị cáo trước, sau đó ông V bênh vực vợ đã cầm ghế nhựa lên định đánh bị cáo, do lúc đó chỉ có một mình bị cáo, còn bên bị hại có nhiều người vì tự vệ nên bị cáo đánh lại bị hại.

Đối với các khoản thiệt hại bị hại yêu cầu bồi thường, bị cáo đồng ý bồi thường tổng số tiền tối đa theo khả năng chỉ bằng 50.000.000 đồng, gia đình bị cáo rất khó khăn, bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại ưu tiên cho các khoản tiền thuốc điều trị cho bị hại, tiền xe, tiền ăn uống bồi bổ cho bị hại, tiền mua đồ dùng thiết yếu cho bị hại khi nhập viện, tiền mất thu nhập của bà T1 3.000.000 đồng. Phần còn lại trong số 50.000.000 đồng thì bồi thường tiền mất thu nhập, tổn thất tinh thần cho bị hại. Trong quá trình điều tra, bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả cho bị hại nhận trước 15.000.000 đồng và nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trà Cú số tiền 500.000 đồng để tiếp tục bồi thường cho bị hại (bị cáo bồi thường thêm 34.500.000 đồng).

Về trách nhiệm hình sự: Ông Dương Đình V yêu cầu xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật (không yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo).

Về trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự: Ông Dương Đình V yêu cầu bị cáo Kim Mỹ H bồi thường chi phí thuốc điều trị 7.124.559 đồng; tiền xe 15.580.000 đồng; tiền ăn, ngày công lao động cho bà T1 và chi phí khác 5.100.000 đồng, tiền mất ngày công lao động trong 24 tháng (4.600.000 đồng/tháng x 24 = 110.400.000 đồng); tiền tổn thất tinh thần 4.600.000 đồng/tháng x 12 tháng = 55.200.000 đồng. Bị cáo Kim Mỹ H đã tự nguyện khắc phục một phần hậu quả cho ông Dương Đình V xong số tiền 15.500.000 đồng.

Phần luận tội, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị tuyên bố bị cáo Kim Mỹ H phạm tội “cố ý gây thương tích”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Kim Mỹ H từ 05 năm đến 06 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị áp dụng Điều 584, 585, 590 Bộ luật Dân sự; Điều 7 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 giải quyết như sau:

  • Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo về việc đồng ý khắc phục chi phí thuốc điều trị 7.124.559 đồng (có hóa đơn chứng từ); Tiền xe 15.580.000 đồng (có chứng từ một phần); T2 mua đồ dùng cá nhân tại cơ sở Y1 và tiền ăn bồi bổ cho bị hại trong thời gian điều trị 1.980.000 đồng. Tổng cộng 24.684.500 đồng.
  • Chấp nhận một phần yêu cầu của bị hại V, buộc bị cáo H phải khắc phục hậu quả cho bị hại: Tiền mất ngày công lao động của bị hại trong thời hạn 01 năm 4.600.000 đồng x 12 tháng = 55.200.000 đồng; Tiền tổn thất tinh thần 25 tháng lương cơ sở 1.800.000 đồng x 25 = 45.000.000 đồng.

Do bị hại V cũng có một phần lỗi (tính lỗi bị cáo 60%, bị hại 40%) nên bị cáo phải bồi thường cho bị hại Văn phần mất thu nhập và tổn thất tinh thẩn 60% = 60.120.000 đồng (100.200.000 x 60%). Do đó, số tiền bị cáo H phải khắc phục hậu quả cho bị hại V là 84.804.500 đồng và bà T1 số tiền 3.000.000 đồng, bị cáo đã khắc phục cho bị hại được số tiền 15.000.000 đồng nên bị cáo phải tiếp tục khắc phục hậu quả cho bị hại V số tiền 69.804.500 đồng. Tiền mất ngày công lao động của người nuôi bệnh (bà Chane T1) trong thời hạn 15 ngày (15 x 200.000 = 3.000.000 đồng); Tiếp tục tạm giữ số tiền 500.000 đồng mà bị cáo H đã nộp khắc phục cho bị hại tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trà Cú để đảm bảo thi hành án.

Việc xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu và tiêu huỷ nhiều mảnh vỡ thủy tinh của vỏ chai bia nhãn hiệu Sài Gòn xanh có dung tích 355ml, không xác định được hình dạng và kích thước. Đối với 01 (một) cái mũ bảo hiểm màu đen có chữ POC màu hồng, đã qua sử dụng bị cáo không có yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu và tiêu huỷ.

Về án phí đề nghị miễn toàn bộ án phí hình sự và án phí dân sự có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo Kim Mỹ H phát biểu bào chữa: Thống nhất với cáo trạng truy tố bị cáo Kim Mỹ H về “Cố ý gây thương tích” theo điểm c, khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Mặt dù, hoàn cảnh kinh tế bị cáo rất khó khăn, thu thập chủ yếu làm thuê (làm tóc) nhưng bị cáo đã dùng tiền của mình khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại số tiền 15.500.000 đồng, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, là thành phần nhân dân lao động nghèo, bị cáo là người dân tộc thiểu số thuộc hộ cận nghèo và có trình độ học vấn thấp, am hiểu pháp luật thấp nên chưa thấy hết hậu quả hành vi do mình gây ra. Hoàn cảnh gia đình bị cáo sống với bà ngoại tuổi cao và bị khuyết tật cần bị cáo chăm sóc, trong vụ việc này, bị hại cũng có lỗi cầm ghế nhựa đánh bị cáo trước. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Các khoản thiệt hại bị cáo tự nguyện bồi thường thì đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận thoả thuận của bị cáo với bị hại. Các khoản chi phí khác đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chi phí hợp lý, vì bị hại nằm viện chỉ có 04 ngày, nhưng tiền mất thu nhập người chăm sóc người bệnh 15 ngày là không hợp lý. Mức lương bị hại yêu cầu 4.600.000 đồng là chưa hợp lý, vì bị hại mới giai đoạn thử việc chứ chưa làm công việc chính thức theo hợp đồng, việc bị hại căn cứ vào mức lương thử việc bằng 4.600.000 đồng để yêu cầu mất thu nhập thời hạn 02 năm là không hợp lý, vì chưa chắc bị hại sẽ được nhận vào làm việc chính thức khi hết thời gian thử việc. Bị hại yêu cầu tồn thất tinh thần nhưng không lý giải được tổn thất như thế nào. Do bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên đề nghị miễn toàn bộ án phí hình sự, dân sự đề nghị miễn cho bị cáo.

Bị cáo, bị hại không tranh luận;

Kiểm sát viên đối đáp với người bào chữa cho bị cáo: Bị cáo Kim Mỹ H không đủ điều kiện áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, vì thương tích bị cáo gây ra cho bị hại là rất nghiêm trọng.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin lỗi bị hại và xin Hội đồng xét xử xem xét xử nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Bị cáo Kim Mỹ H có lời khai khoảng 19 giờ 30 phút ngày 22/10/2023 tại nhà của ông Thạch H1, địa chỉ ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Sau khi bà Kim Thị C Tha vợ bị cáo V cho rằng bị cáo H nói xấu bị hại V thì giữa bị cáo và bà T1 xảy ra cự cãi và xô đẩy qua lại, do bênh vực vợ nên bị hại V cầm ghế nhựa ở hiện trường đánh bị cáo nhưng chưa đánh được. Do sợ bị đánh nên bị cáo Kim Mỹ H tay phải cầm vỏ chai bia bằng thủy tinh đánh gây thương tích cho ông Dương Đình V với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 43%. Đối với Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 400/2023/KLTTCT ngày 25 tháng 12 năm 2023 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh T bị cáo không ý kiến khiếu nại gì. Xét lời khai của bị cáo Kim Mỹ H là phù hợp với hiện trường vụ án, phù hợp với thời gian bị cáo có mặt tại hiện trường vụ án, phù hợp lời khai của bị hại, những người có mặt tại hiện trường vụ án như ông Thạch H1 và bà Kim Thị Chane T1, phù hợp với kết luận giám định tổn thương cơ thể. Hành vi của bị cáo Kim Mỹ H đã xâm phạm đến sức khoẻ của bị hại Dương Đình V được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Việc bị cáo Kim Mỹ H thực hiện hành vi dùng vỏ chai bia bằng thủy tinh là hung khí nguy hiểm đánh vào vùng mắt của bị hại Dương Đình V thì pháp luật hình sự buộc bị cáo H phải ý thức được hậu quả sẽ gây nguy hiểm đến sức khoẻ của ông Dương Đình V. Do đó, cáo trạng số 57/CT-VKS-HS, ngày 29/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh truy tố bị cáo Kim Mỹ H về tội cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ.

[2] Tội phạm bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, để lại hậu quả tổn thương cơ thể 43% cho bị hại không thể điều trị khắc phục lại được như ban đầu nên hành vi của bị cáo H cần phải được xử lý nghiêm minh theo pháp luật, cần thiết phải xử phạt bị cáo mức án tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm để giáo dục cho bị cáo thấy được sai lầm của mình và sự nghiêm minh của pháp luật. Việc xử phạt nghiêm minh đối với bị cáo còn nhằm để răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội đối với những hành vi tương tự.

[3] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét quan điểm của người bào chữa cho bị cáo là quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại số tiền 15.500.000 đồng, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, là thành phần nhân dân lao động và thuộc diện hộ nghèo, là người dân tộc thiểu số và có trình độ học vấn thấp, lao động chính, phải chăm sóc mẹ bệnh, bà ngoại tuổi cao và bị khuyết tật, bị cáo có ông ngoại có công với Tổ quốc. Vụ án do bà T1 vợ bị cáo là người gây sự với bị cáo trước, sau đó bị hại V là người cầm ghế nhựa định đánh bị cáo trước, tuy bị hại chưa đánh bị cáo được nhưng đây cũng là nguyên nhân xảy ra vụ án cho nên bị hại V cũng có lỗi. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xét bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), nhưng số tiền bị cáo khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại cho bị hại chưa đến 2/3 chi phí hợp lý nên cấp độ áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 cho bị cáo là không đầy đủ. Do đó, người bào chữa cho bị cáo đề nghị áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo ở khung liền kề nhẹ hơn là không đảm bảo căn cứ nên không được chấp nhận.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

- Phần thoả thuận được: Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại Văn tiền chi phí xét nghiệm, chi phí thuốc điều trị 7.124.500 đồng (làm tròn số), tiền xe chuyển viện, tái khám bằng 15.580.000 đồng, tiền mua đồ dùng cá nhân tại cơ sở y tế và tiền ăn bồi bổ cho bị hại trong thời gian điều trị chấp nhận cho bị hại tổng cộng 1.980.000 đồng (tiền ăn bồi bổ 1.500.000 đồng), tổng cộng 24.684.500 đồng và tiền ngày công lao động (thu nhập bị mất của người nuôi bệnh bà Kim Thị Chane T1) 15 ngày, mỗi ngày 200.000 đồng bằng 3.000.000 đồng. Xét thấy việc thỏa thuận bồi thường của bị cáo cho bị hại là tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử công nhận.

- Phần không thoả thuận được: Tiền mất thu nhập của bị hại V: Bị hại V yêu cầu thời gian 24 tháng, mỗi tháng 4.600.000 đồng bằng 110.400.000 đồng. Theo bị hại V trình bày thì sau khi bị thiệt hại, bị hại nghỉ việc đến nay chưa đi làm lại được. Hội đồng xét xử chấp nhận cho bị hại để buộc bị cáo bồi thường 12 tháng mất thu thập bằng 55.200.000 đồng.

- Phần không thoả thuận được: Tiền tổn thất tinh thần bị hại V yêu cầu 4.600.000 đồng/tháng x 12 tháng = 55.200.000 đồng. Tuy nhiên, bị hại V không chứng minh được mức độ tổn thất như thế nào, nhưng xét tổn thương cơ thể 43% ở mắt thì ảnh hưởng đến thẩm mỹ, giao tiếp và sinh hoạt hàng ngày của bị hại nên tổn thất về tinh thần là có, nhưng bị hại yêu cầu tính trên mức lương 4.600.000 đồng/tháng là không phù hợp với quy định tại Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015. Đối chiếu mức cao nhất là 50 tháng lương cơ sở quy định tại Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015 bằng 90.000.000 đồng, bị hại yêu cầu tổng số tiền 55.200.000 đồng tương ứng với 30,66 tháng lương cơ sở. Hội đồng xét xử xét thấy mức độ tổn thương cơ thể bị hại 43% 73 vùng mắt cần buộc bị cáo bồi thường cho bị hại 25 tháng lương cơ sở (18.000.000 đồng/tháng) bằng 45.000.000 là đảm bảo quyền lợi của bị hại.

[5] Đối với tiền tổn thất tinh thần 45.000.000 đồng và tiền mất thu nhập của bị hại bằng 100.200.000 đồng (45.000.000 đồng + 55.200.000 đồng). Xét trong vụ án này, bị hại cũng có lỗi nên bị hại phải gánh chịu phần lỗi của mình đối với phần thu nhập bị mất và tổn thất tinh thần. Hội đồng xét xử xác định bị cáo mức độ lỗi 60%; mức độ lỗi của bị hại 40%. Do đó, bị cáo phải bồi thường cho bị hại Văn phần thu nhập bị mất và tổn thất tinh thần 60% lỗi bằng 60.120.000 đồng (100.200.000 đồng x 60%). Như vậy, bị cáo Kim Mỹ H có trách nhiệm bồi thường tiếp cho bị hại V số tiền 84.804.500 và bồi thường bà Kim Thị Chane T1 số tiền 3.000.000 đồng. Trong quá trình điều tra, bị cáo đã khắc phục cho bị hại trước số tiền 15.000.000 đồng. Số tiền bị cáo Kim Thị Mỹ H2 đã bồi thường trước cho bị hại 15.000.000 đồng sẽ được khấu trừ vào tổng số tiền bị cáo phải bồi thường cho bị hại (84.804.500 đồng – 15.000.000 đồng). Số tiền bị cáo Kim Mỹ H2 phải bồi thường tiếp cho bị hại Dương Đình Văn bằng 69.804.500 đồng.

[6] Về vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đối với nhiều mảnh vỡ thủy tinh của vỏ chai bia nhãn hiệu Sài Gòn xanh có dung tích 355ml, không xác định được hình dạng, kích thước là vật chứng vụ án và 01 cái mũ bảo hiểm màu đen có chữ POC màu hồng, đã qua sử dụng, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu và tiêu huỷ.

[7] Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 05% án phí dân sự của số tiền phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo thuộc diện hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí nên miễn toàn bộ án phí hình sự, án phí dân sự cho bị cáo Kim Mỹ H2.

[8] Hội đồng xét xử đã thẩm tra các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố và thấy rằng các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng được thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Tuyên bố bị cáo Kim Mỹ H2 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Kim Mỹ H2 05 (năm) năm tù

Thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành án.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Căn cứ các điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật dân sự năm 2015;

  • Buộc bị cáo Kim Mỹ H2 bồi thường cho bị hại Dương Đình V tổng số tiền 69.804.500 (Sáu mươi chín triệu tám trăm lẽ bốn nghìn năm trăm) đồng
  • Buộc bị cáo Kim Mỹ H2 có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bà Kim Thị Chane T1 số tiền: 3.000.000 (ba triệu) đồng.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 500.000 đồng bị cáo nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trà Cú để đảm bảo thi hành án cho bị hại Dương Đình V.

Khi án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu lãi của số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Việc xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu và tiêu huỷ nhiều mảnh vỡ thủy tinh của vỏ chai bia nhãn hiệu Sài Gòn xanh có dung tích 355ml, không xác định được hình dạng và kích thước và 01 (một) cái mũ bảo hiểm màu đen có chữ POC màu hồng, đã qua sử dụng.

Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hình sự, án phí dân sự cho bị cáo Kim Mỹ H2.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật T hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thihành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại, người liên quan;
  • - VKSND huyện Trà Cú;
  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - Sở tư pháp tỉnh Trà Vinh;
  • - Cơ quan CSĐTCA huyện Trà Cú;
  • - Cơ quan THAHSCA huyện Trà Cú;
  • - Cơ quan THADS huyện Trà Cú;
  • - Nhà tạm giữ CA huyện Trà Cú;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Văn Truyền

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Hữu Thanh

Kim Ngọc Trường

Nguyễn Văn Truyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2024/HS-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH về hình sự sơ thẩm về tội cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 55/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Kim Mỹ Hạnh cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger